Saturday, October 15, 2011

Vị Sư Quét Chợ

..................
.....
VỊ SƯ QUÉT CHỢ
..
TÁC GIẢ: VĨNH HẢO
..
- « Nhớ dâng trà cúng Sư Thúc và Dì Linh nghe con? » thầy nhắc chú tiểu khi thấy chú sửa soạn lên chánh điện để cúng Ngọ.
- « Bạch Thầy, con nhớ », chú đáp.
Đó là câu mà thầy cứ nhắc chú mỗi ngày trước mỗi thời kinh. Chú chẳng biết Sư Thúc là ai, Dì Linh là ai. Trên chiếc bàn thờ nhỏ đặt cạnh bàn Tổ, chú chỉ thấy hai cái bài vị được viết bằng chữ Hán chứ chẳng có hình ảnh gì cả. Vì thầy nhắc mãi nên chú không lúc nào quên, vậy mà thầy cứ nhắc. Nghe nhắc hoài, ban đầu chú hơi bực mình, nhưng riết rồi cũng quen. Và khi chú rót trà cúng cho hai người đó, chú cũng làm như một cái máy chứ không suy nghĩ gì. Chùa chỉ có một thầy một trò, nên thầy thương chú lắm và chú cũng quý kính thầy vừa như cha mẹ, vừa như thầy, và thỉnh thoảng như một người bạn đạo. Chú không có tên thế tục. Chú chẳng hiểu lý do vì sao. Có lẽ vì chú sống ở chùa từ nhỏ nên thầy đã không đặt tên thế tục cho chú mà chỉ đặt cho chú một pháp danh là Thanh Thị. Chú lớn lên ở trong chùa, quen với tên gọi mà thầy đặt cho, chẳng thắc mắc gì. Nhưng đến khi được thầy dạy cho học chữ Hán, chú mới hiểu được cái tên đọc nghe như tên con gái của mình lại có một ý nghĩa kỳ cục, không được thanh nhã cho lắm. Nó có vẻ như được đặt ra để đánh dấu một kỷ niệm nào đó của thầy, hoặc cho chính chú. Chú băn khoăn suy nghĩ mãi về ý nghĩa của cái tên mà mình đeo mang. Nhân lúc cùng thầy nhổ cỏ sau vườn chùa, chú hỏi :
- « Bạch Thầy, tại sao thầy đặt tên con là Thanh Thị ? ».
- « Vì thầy thích đặt như vậy », thầy chú thản nhiên trả lời.
- « Lâu nay con tưởng rằng chữ thị có nghĩa là đây, như vầy, giống như chữ thị trong như thị, đích thị hoặc chữ thị như trong biểu thị, thị hiện ... nhưng mới hôm qua, thầy viết tên con bằng chữ thị có nghĩa là chợ. Con không rõ là tên con sao lại có cái nghĩa không được hay. Xin thầy giải thích cho con ».
Thầy nghiêm giọng nói:
- « Chỉ là tên gọi thôi, có gì mà phải bận tâm, nhổ cỏ đi ».
- Chú cúi xuống nhổ cỏ tiếp, nhưng được một lúc, chú lại hỏi :
- « Con biết đó chỉ là tên gọi thôi, nhưng tên gọi cũng phải nói lên một cái gì, một ý nghĩa gì chứ ».
- « Thì chợ cũng là một cái gì, một ý nghĩa gì rồi đó », thầy đáp.
- « Con thấy chợ chỉ có ý nghĩa là dơ, ồn ào, phức tạp ... toàn là xấu không à. Con không tìm ra được ý nghĩa nào hay đẹp ở trong nó. Khi thầy đặt tên con, chắc chắn là thầy có nghĩ đến một ý tưởng hay một hình ảnh gì đó về cái chợ, phải không, Bạch Thầy ? ».
- « Nhiều chuyện quá » thầy nói, « nhổ cỏ đi ».....
Chú im lặng nhổ cỏ, không dám hỏi nữa. Nhưng trong đầu óc chú bắt đầu nẩy ra những suy tưởng, những phán đoán về sự đặt tên của thầy. Chú nghĩ, năm nay chú đã 16 tuổi rồi, có thể nói là chú đủ trưởng thành để nghe thầy kể về lai lịch của chú. Lâu nay mỗi lần chú hỏi đến vấn đề đó, thầy chỉ nói là chú chưa trưởng thành, chưa đến lúc cần biết. Nhưng dù thầy chẳng nói ra, chú cũng không đến nỗi ngu độn để không biết rằng chú là một đứa bé mồ côi. Ai cũng có cha mẹ, riêng chú không có. Cái thực tế đó làm gì thầy che giấu được. Nhưng tại sao lại đặt tên là Thị, có nghĩa là chợ? Có lẽ ... có lẽ cha hay mẹ của chú là người bán hàng ngoài chợ, hoặc là người chủ chợ. Nhưng ba mẹ chú đâu mà để cho thầy phải đặt tên? Cũng có thể mẹ chú đi ngang chợ thì sinh ra chú. Không, nếu mẹ chú sinh ra chú ở chợ thì cũng đem về nhà, và chú vẫn còn người mẹ đó chứ chú đâu có mồ côi để cho thầy phải đặt tên ! Hay là ... hay là thầy lượm được chú ngoài chợ, đem về chùa nuôi cho đến ngày hôm nay? Chính vì kỷ niệm đó mà thầy đặt tên cho chú là Thị (chợ)?
- « Bạch Thầy ... » chú không ngăn được nỗi háo hức tìm hiểu thân phận mình, lại mở miệng hỏi
- « Gì nữa đây ? » thầy không nhìn chú.
- « Có phải ... có phải con là đứa con rơi thầy lượm ở ngoài chợ đem về hay không ? ».
Thầy ngưng tay nhổ cỏ. Im lặng một lúc, thầy tiếp tục nhổ, vừa nói:
- « Nhổ cỏ ».
....
Đến chiều, sau giờ ăn cháo, thầy gọi chú cùng dạo sân với thầy. Hai thầy trò tản bộ cho đến vườn sau, nơi có hai ngôi mộ mà thỉnh thoảng chú thấy thầy ra thắp hương. Một cái mộ thì chú biết là của Sư Thúc chú, còn cái còn lại chú chẳng biết của ai và cũng không để ý lắm.
- « Con đã dâng trà cho Sư Thúc và Dì Linh lúc công phu chiều rồi hả? » thầy hỏi.
- « Bạch Thầy, rồi », chú trả lời như máy.
Thầy nhặt mấy chiếc lá nằm trên mộ Sư Thúc, nhổ vài bụi cỏ mới mọc quanh hai ngôi mộ. Rồi thầy bắt đầu kể chuyện cho chú nghe.
...
* * * *
Thầy Hải Chấn đang ngồi đọc sách thì Hải Thanh, sư đệ của thầy, bước vào, mặt buồn dàu dàu. Hải Chấn hỏi:
- « Gì mà sư đệ có vẻ rầu lo vậy ? ».
Hải Thanh buồn bã đứng nhìn ra cửa sổ một lúc rồi nói:
- « Đệ ... đã phạm giới ... » Hải Thanh nói đến đó thì rơi nước mắt.
Hải Chấn kéo tay sư đệ ngồi xuống, vỗ về :
- « Có trầm trọng lắm không? Đệ đã sám hối chưa? ».
- « Đã sám hối. Nhưng đó là cho tự tâm. Không giải quyết gì được cho hoàn cảnh ».
- « Chuyện gì vậy? Nói đi, để xem huynh có thể giúp gì cho đệ không ».
– « Huynh đừng trách mắng đệ nghe ... ».
- « Phạm tội thì sám hối ; huynh trách mắng có thay đổi gì được đâu ! Nói đi, đừng chất chứa trong lòng », Hải Chấn nói với giọng đầy cảm thương.
Hải Thanh đưa hai tay ôm lấy đầu, mặt gục xuống bàn, nói:
- « Cô ấy đã có mang ».
Hải Chấn sửng sốt một lúc, rồi thở dài, hỏi:
- « Cô ấy là ai vậy? ».
- « Sư huynh không biết đâu. Cô ấy không hề đến chùa mình ».
- « Vậy làm sao đệ quen để đến nỗi ... ».
- « Thôi, huynh hỏi làm gì chuyện đó cho mệt. Bây giờ, đệ chỉ hỏi huynh một điều là đệ phải làm sao đây? ».
Hải Chấn nhíu mày, thấy khó xử. Theo luật, Hải Thanh đã phạm một trong các tội Ba-la-di, tức những trọng giới mà đương sự bị coi như mất cả giới thể, không còn là tỳ-kheo thanh tịnh nữa, không thể chữa được nữa, như cây dừa, cây cau, đã chặt đi khúc đầu (đoạn đầu) thì không thể mọc lại tàu lá mới. Đã tới nước đó thì Hải Chấn biết góp ý với Hải Thanh điều gì nữa. Hải Chấn thở dài nói:
- « Huynh cũng chẳng biết phải góp ý với đệ làm sao. Chuyện không đơn giản đâu. Đệ phải nói rõ sự việc may ra ... ».
Hải Thanh ngập ngừng lúc lâu rồi kể:
- « Cũng vì cái hạnh quét chợ mà đệ vướng phải nghịch cảnh này. Huynh cũng biết mà, mỗi sáng đệ quét từ sân ra tới chợ, mặc ai cười ai chê, đệ quét thì cứ quét, vừa quét vừa quán niệm về sự cấu bẩn của thế gian và thanh tịnh của niết bàn ... năm này qua năm nọ, mưa hay nắng, đệ cũng không bỏ ngày nào. Thế rồi ... cô ấy lưu ý đến đệ. Và ... một ngày nọ, đệ sa ngã ».
- « Buồn thay cho đệ. Cô ấy bán ngoài chợ à? ».
- « Không, cô chỉ đi ngang chợ thôi ».
- « Vậy bây giờ gia đình cô ấy đã biết rằng chính đệ đã làm ... cái chuyện gì đó chưa? ».
- « Chưa, cô ấy không nói ra là ai. Nhưng ... có lẽ có ngày họ cũng biết. Mà họ có biết hay không thì ... mình cũng phải tự liệu».
- « Tự liệu? ».
- « Ý đệ nói là mình phải giải quyết vấn đề đó bằng cách đến nói chuyện với gia đình cô ấy, xin hỏi cưới cô ấy, hoặc là ... đệ cùng cô ấy trốn đi xa để khỏi mang tai tiếng cho gia đình cô ấy và cho chùa nữa ».
- « Nghĩa là đệ sẽ hoàn tục? ».
- « Chứ biết sao bây giờ. Huynh có cách gì hay hơn không? ».
Hải Chấn ứa nước mắt, thương sư đệ mình gặp nghịch duyên đến phải bỏ đường tu, nhưng chẳng biết phải giúp bằng cách nào. Hải Chấn ngồi lặng thinh. Một chặp, Hải Chấn nói:
- « Huynh chẳng biết cách nào hết, mong đệ tha thứ cho sự chậm lụt của huynh. Huynh nghĩ chắc phải làm theo một trong hai cách mà đệ nêu ra thôi. Mà cho dù chọn giải pháp nào, huynh cũng xin lưu ý đệ một điều rằng đệ nên giải bỏ hình thức tăng sĩ trước khi ... ».
- « Đệ hiểu ».
Hai huynh đệ im lặng, mỗi người một dòng suy tưởng.
.....
Hải Chấn nhớ lại bao kỷ niệm mà thầy cùng Hải Thanh trải qua nơi ngôi chùa này từ thuở còn để chóp đến nay. Hải Thanh thông minh, nhanh nhẹn mà lại siêng năng nên cái gì cũng vượt qua mặt sư huynh. Nhưng đến khi sư phụ sắp viên tịch, sư phụ lại giao trọng trách trụ trì cho Hải Chấn. Lúc đó Hải Chấn đã không nhận vì cho rằng sư đệ vượt trội hơn mình quá nhiều. Hải Thanh cũng không chịu nhận chức trụ trì, còn sư phụ thì nhất quyết phải giao chức ấy cho Hải Chấn dù Hải Chấn học hành chậm lụt. Rốt cuộc Hải Chấn phải nhận. Giờ ra đi, sư phụ không nói gì nhiều ngoài việc khuyên răn hai huynh đệ nương nhau tu tập, và những lời cuối cùng của sư phụ đều nhắm vào Hải Thanh, cảnh giác Hải Thanh là không nên chú trọng vào sở kiến sở văn mà bỏ quên phần tu tập. Sau khi sư phụ mất, Hải Thanh thức tỉnh, nỗ lực hành trì, không bao giờ chểnh mảng. Rồi một ngày đó, Hải Thanh bỗng phát nguyện quét luôn cả chợ thay vì chỉ quét sân chùa. Hải Chấn không ngăn cản chi hạnh nguyện của sư đệ mình vì nghĩ rằng đó cũng là hạnh tốt thôi. Hải Thanh cho rằng hình ảnh người tu sĩ hiền lành nhẫn nại có mặt nơi phố chợ đông người sẽ cảm hoá và gây được tín tâm cho nhiều người. Ngoài ra, quét chợ cũng là một cách tu luyện cho tâm được định tĩnh ngay giữa chốn náo động. Không ngờ, chính hạnh nguyện cao đẹp đó lại đốn ngã Hải Thanh trong một nghịch duyên đau xót.
Hải Thanh không ôn lại kỷ niệm xưa mà chỉ ưu tư vấn đề xảy ra trước mắt. Hải Thanh nhớ đến Thuỳ Linh, cô gái đã có mang với mình. Cô ấy rất đẹp và là một tiểu thư con của quan huyện. Với sự thông minh vốn có, lại thêm sự giúp đỡ bày mưu của cô nữ tì, cô ấy đã tạo đủ điều kiện để lôi kéo Hải Thanh ngã vào vòng tay mình. Từ những phút đầu Hải Thanh đã biết mình rơi vào lưới tình, nếu không thức tỉnh quay lại ngay với thiền môn thì khó bề giữ gìn được đạo hạnh của mình, nhưng bóng sắc lộng lẫy kiêu sa của nàng đã không để cho Hải Thanh chùn bước mà còn kéo thầy lậm sâu thêm vào cơn men ái dục. Bây giờ chuyện đã lỡ rồi, không cưỡng lại được nữa. Hải Thanh muốn rủ Thuỳ Linh cùng bỏ huyện này trốn đi với mình qua xứ khác sinh sống và cũng để tránh tiếng cho cả đôi bên, nhưng Thuỳ Linh không dám. Nàng đã ở lại để rồi không che dấu được cái thai càng lúc càng lớn. Nàng đã bị cha đánh đập, mắng chửi dữ dội. Hải Thanh nghe nữ tì nói lại như vậy nhưng chẳng biết phải làm sao. Nhiều lúc Hải Thanh muốn lẻn vào tư dinh quan huyện để cứu nàng ra khỏi đó, nhưng lính gác canh phòng nghiêm nhặt, không cách gì vào được. Dù đã từng xem thế sự như một giấc mộng hư huyễn, trước tình cảnh đau xót mà Thuỳ Linh phải hứng chịu, Hải Thanh không khỏi nghe tan nát trong lòng.
....
Đêm đó, hai huynh đệ ngồi thức trắng bên bàn sách. Đến lúc mờ sáng, Hải Thanh mới rời phòng sách vào phòng riêng, lấy khăn chít lấy đầu để che dấu cái đầu tròn tu sĩ của mình, thay đổi y phục như một người thế tục rồi từ giã Hải Chấn mà đi. Hải Chấn hỏi:
- Đệ đi đâu vậy? ».
- « Đến tư dinh quan huyện nói chuyện thẳng với cha cô ấy ».
- « Sao huynh thấy ái ngại cho chuyến đi này của đệ quá. Thấy có gì không ổn. Đệ liệu có thể thuyết phục được cha mẹ cô ấy không? ».
Hải Thanh không đáp, chỉ nhún vai rồi đi. Hải Chấn níu lại, dúi vào bọc vải của sư đệ một túi tiền nhỏ:
- « Đó là tiền riêng của huynh, không phải của chùa đâu, đừng ngại. Đệ mang theo để có gì ... ».
- « Cám ơn huynh. Đệ đi đây. Nếu có tin tốt đẹp, đệ sẽ cùng Thuỳ Linh ghé thăm huynh trước khi rời xứ này ».
Và Hải Thanh đi luôn, không trở lại. Hải Chấn bồn chồn lo lắng suốt cả ngày và đêm hôm đó. Sáng hôm sau, khi Hải Chấn ra vườn thì thấy xác Hải Thanh nằm ở trước sân chùa, thân thể tím bầm vì bị đánh đập đến tắt thở. Hải Chấn đến khiếu nại với quan huyện nhưng huyện đường đóng cửa, lính gác xua thầy về. Thầy đành ngậm ngùi chôn xác sư đệ sau vườn chùa. Nghĩ rằng có làm to chuyện lên thì sư đệ nhắm mắt cũng không được yên.
....
Hai tháng sau, Thuỳ Linh sinh hạ một bé trai. Nửa đêm nàng lẻn trốn khỏi dinh, mang con ra chợ, ngồi nơi sạp hàng mà ôn lại chuyện xưa khi nàng đi ngang đây và bắt gặp nhà sư quét chợ lạ kỳ. Nàng ngồi giữa trời sương cho đến sáng thì chết, tay vẫn còn ôm đứa bé sơ sinh đang khóc.
Quan huyện lâu nay cố che dấu chuyện con gái mình nhưng nay, cái chết của Thuỳ Linh ngay giữa chợ đã làm cho câu chuyện nhanh chóng truyền đi; ông bực dọc và căm giận đến độ sai lính treo bảng thông báo rằng ông đã từ đứa con trắc nết phá hoại gia phong, rằng ông không chịu trách nhiệm về cái chết của Thuỳ Linh cũng như không chấp nhận đứa con của người quét chợ. Thông cáo của ông có vẻ như ngầm phán rằng đứa bé phải chịu chết giữa chợ đời, không ai được phép cứu nó. Vì uy quyền hống hách cũng như sự giận dữ của quan huyện, không ai dám mang đứa bé sơ sinh về nuôi. Người ta gỡ đứa bé khỏi vòng tay lạnh giá và cứng đờ của mẹ nó rồi đặt nó nằm trong một chiếc nôi, để giữa chợ để chờ kẻ nào động lòng trắc ẩn đến mang nó đi. Những người đàn bà bán hàng ngoài chợ đã chăm lo sữa cho đứa bé suốt ngày đó, nhưng cũng không ai chịu nhận đứa bé về. Còn xác Thuỳ Linh thì được quấn sơ sài bằng một cái chiếu, đặt ở gần đó. Đến chiều tối thì chuyện đến tai Hải Chấn. Thầy liền tức tốc ra chợ, ôm chiếc nôi nhỏ mang về chùa. Còn xác Thuỳ Linh, thầy bảo những người phật tử bán hàng ở chợ giúp đem về chùa chôn. Ấy vậy mà quan huyện không dám động đến Hải Chấn vì cả nể đức hạnh và uy tín của thầy. Đứa bé được yên thân sống và lớn lên trong cửa chùa.
.
* * * * *
.
Nước mắt ràn rụa trên hai gò má bầu bĩnh, chú tiểu Thanh Thị quì xuống chân thầy:
- « Tạ ơn thầy cứu sống và nuôi dưỡng con».
Thầy đỡ chú dậy, nói tiếp:
- « Sư Thúc của con có linh vị thờ trong chùa mà thầy thường nhắc con rót trà dâng cúng chính là Hải Thanh cha của con đó. Sư Thúc với thầy tu học với nhau từ nhỏ nên ngoài tình đạo bạn còn coi nhau như anh em ruột. Chuyện của Sư Thúc khiến thầy đau lòng quá mà không biết giúp bằng cách nào. Nuôi dưỡng con chỉ là một chuyện nhỏ để biểu lộ sự mến tiếc của thầy đối với Sư Thúc thôi. Huống chi, làm sao thầy có thể bỏ mặc một đứa trẻ kêu khóc không người đoái hoài ... ».
...
Chú tiểu Thanh Thị bây giờ đã hiểu vì sao chú có cái tên lạ kỳ đó : Thanh là tên của cha chú còn Thị chính là chợ, là nơi ghi lại kỷ niệm chua xót đầu đời của cha chú, mẹ chú, và cả chú nữa.
- « Vậy quan huyện hiện nay chính là ông Ngoại của con hở, Bạch Thầy? ».
- « Không. Ông và phu nhân đều đã qua đời. Quan Huyện hiện nay là người mới được bổ nhiệm »
- « Vậy những người ở ngoài chợ ... đều biết chuyện của con hở thầy? ».
- « Mười sáu năm rồi, nhiều người đã dọn đi xứ khác, nhiều người đã chết, chỉ còn lại rất ít người là biết chuyện của con, nhưng chắc họ cũng quên khuấy đi rồi. Mà sao con hỏi vậy? Con không muốn người ta biết rằng con đã xuất thân từ đâu, phải vậy không? ».
- « Bạch Thầy không phải, không phải ».
- « Như vậy thì tốt. Nhân cách không nằm ở chỗ xuất thân từ đâu mà từ chính giá trị thực có của mình ».
- « Dạ, con biết », chú cúi mặt nói nhỏ.
Theo như lời thầy kể, rồi nhìn hai ngôi mộ song song trước mặt, đọc những chữ Hán viết trên mộ bia, chú thấy rõ đó chính là song thân của mình. Chú quỳ xuống nhìn thật lâu nơi hai mộ bia, lặng người một lúc lâu, chú bật khóc thảm thiết.
....
Vậy đó mà chú vẫn không sao tẩy xoá được nỗi mặc cảm đè nặng trong tâm khảm mình: rằng chú là một đứa trẻ vô thừa nhận, được sinh ra bởi một người cha tu sĩ phá giới, một người mẹ khuê các phá gia phong; rằng chú bị bỏ rơi giữa chợ đời như một tội nhân tử hình ngay từ lúc sơ sinh. Bao nhiêu ý nghĩ đó ám ảnh chú suốt mấy ngày kế tiếp sau khi nghe thầy kể rõ sự tình. Thầy theo dõi từng biến động tâm tư hiện trên mặt chú, bèn gọi chú hỏi chuyện:
- « Con sẽ mang buồn cho đến bao giờ? Có sinh tức có diệt, sao phải ôm mãi nỗi đau khổ biệt ly như thế !».
Chú lặng thinh không đáp lời thầy. Thầy biểu lộ tình cảm, lấy tay xoa đầu chú:
- « Thương cha mẹ, con rán tu học để cha mẹ vui lòng. Cha con là một tu sĩ thông minh, có tuệ căn, làu thông kinh điển. Chỉ một phút yếu lòng mà đánh mất sự nghiệp cao cả. Con có thương cha thì nối tiếp sự nghiệp đó mới phải, sao cứ ôm lòng buồn rầu mãi. Con đến rót trà dâng ba đi, rồi lên tụng kinh ».
Chú cúi mặt bặm môi một chặp, bỗng ngước lên nói:
- « Chỉ có thầy mới là cha con thôi. Ông ấy không phải là cha con !».
Nói rồi chú vụt đứng dậy, bỏ đi vào phòng riêng, đóng cửa lại. Thầy sững sờ ngồi nhìn theo, lắc đầu buồn bã. Chú bỏ tụng kinh chiều hôm đó. Thầy lặng lẽ đắp y áo, thắp hương, rót trà cho sư đệ Hải Thanh rồi thầy tụng kinh thay chú.
Suốt mấy ngày, chú vẫn không ra khỏi phòng. Thầy đến gõ cửa, gọi mãi mà không được. Mọi việc trong chùa thầy làm thay chú hết. Chú không ra khỏi phòng nên cũng nhịn ăn luôn cả mấy ngày. Hai thầy trò sống bên nhau 16 năm rồi, chưa lần nào vào bữa ăn mà thiếu thầy hay thiếu trò. Cho nên, khi chú nhịn, thầy cũng nhịn theo, không buồn ăn nữa, chia xẻ nỗi đau khổ nặng nề của chú. Đến ngày thứ tư, chú mới mở cửa bước ra, phờ phạc, bệnh hoạn. Chú đến quỳ dưới chân thầy và khóc nức nở. Thầy chỉ lấy tay xoa đầu chú.
Hai thầy trò bỗng dưng mà sống một cuộc sống lặng câm, buồn tẻ. Thầy để chú tự do trong những suy tưởng riêng tư chứ không gợi chuyện gì với chú cả. Không khí trong chùa vì vậy mà nặng nề. Cho đến một ngày nọ, sau khi cùng làm lễ sám hối với thầy xong, chú mới cất được gánh nặng trong lòng. Chú thưa với thầy:
- « Con đã sai lầm. Con không thể phủ nhận công ơn sanh thành của cha mẹ ».
- « Tốt, con biết vậy là tốt. Mẹ con vì sinh mạng của con, vì muốn lưu giữ giọt máu và hình bóng của cha con mà nhẫn nhục sống giữa bao lời xỉ vả, bao trận đánh đập của gia đình để chờ ngày sinh ra con. Mẹ con tuy phá gia phong nhưng, theo thầy, bà là người tinh mắt, thông minh, một phụ nữ đức hạnh biết vượt lên cái hình thức bề ngoài để nhìn thấy được giá trị tinh thần nơi cha con. Còn cha con, tuy phạm cấm giới, nhưng biết ăn năn, biết trách nhiệm, đã can đảm bước vào tư dinh của ông Ngoại con với ước mong là cứu được hai mẹ con ra ngoài ... và cha con đã chết vì dám đứng ra đối đầu với nguy hiểm. Với truyền thống, với tập tục, cả hai đều bị lên án. Nhưng họ đã chết một cách cao cả, ít nhất là đối với sinh mạng của con, phải không ? Ở một khía cạnh nào đó, một hoàn cảnh đặc biệt nào đó, con sẽ thấy rằng cái mà người ta gọi là truyền thống, tập tục, gia phong, lễ giáo ... thật ra chẳng là gì cả. Rỗng tuếch ! Chỉ có những tấm chân tình mới thực sự là có ý nghĩa mà thôi ».
- « Dạ, con hiểu », chú nói trong giọng xúc động và tri ân thầy đã chỉ giáo.
Chú không dám coi thường cha mẹ mình nữa. Chú thăm mộ cha mẹ hàng ngày, chú rót trà dâng cha mẹ vào mỗi thời kinh. Sư Thúc và Dì Linh, chú không còn gọi hai tên đó nữa mà gọi bằng cha mẹ. Chú cảm thấy có cái gì ngọt ngào và khiến chú ấm lòng khi gọi lên hai tiếng cha mẹ đó. Tuy nhiên, trên thực tế, chú chỉ vui sướng sống trong tình cảm và vòng tay vô hình vô ảnh của cha mẹ ; còn đối với những mặc cảm về thân phận mình, chú vẫn không sao tẩy xoá đi một cách thoải mái được. Đến nỗi khi đi ra đường với thầy, chú có cảm giác như mọi người đang nhìn mình, xầm xì, chỉ trỏ, bàn tán về « người quét chợ ». Từ đó, chú hết muốn ra khỏi chùa. Và đôi lúc, chú muốn cải đổi cái tên Thanh Thị mà chú mang. Chú thấy cái tên đó chỉ nhắc nhở chú về thân phận buồn tủi của chú mà thôi.
Vì thương chú, và vì chưa biết cách nào giải toả mặc cảm của chú một cách hữu hiệu, thầy cũng chiều lòng chú, không sai chú ra ngoài nhiều và cũng tránh cho chú những dịp phải ra trước đám đông.
....
Trải qua 4 năm, với tuổi đời thêm lớn, với sự học hỏi giáo lý, với sự tu tập thiền định, và với sự tiếp thọ đại giới để trở thành một vị tỳ kheo, chú dần dần thấy vơi đi những tình cảm lưu luyến xót xa cho chuyện tình thương tâm của cha mẹ. Nhưng cái mặc cảm sợ người khác biết rõ thân phận mình vẫn cứ đeo bám mãi trong lòng chú, không sao gột bỏ. Thầy biết vậy, cố gắng tháo gỡ cái mặc cảm đó cho chú lần nữa bằng một cuộc nói chuyện sau thời tụng kinh khuya:
- « Thanh Thị, con đã trở thành một vị đại đức, một vị lãnh đạo tinh thần xứng đáng cho đồ chúng noi gương tu tập. Vậy mà thầy thấy con như vẫn còn ôm ấp cái mặc cảm rằng mình thấp hèn, phải vậy không? Con nói đi, cái gì khiến con nghĩ như thế ? Con có biết rằng chỉ một cái phiền não nhỏ nhặt còn sót lại trong tâm cũng đủ ngăn trở con tiến đến giải thoát hay không ? ».Thanh Thị không nói không rằng, lặng lẽ bỏ vào phòng. Thầy đến gõ cửa, đứng ngoài cửa nói vọng vào:
.
- « Hãy nhìn kỹ những gì thầy làm. Nếu việc thầy làm khiến con thấy thầy không xứng đáng là thầy của con nữa thì con hãy rời thầy mà đi tìm một minh sư khác để tham vấn. Con không thay đổi thì suốt một đời ở bên thầy cũng chỉ vô ích mà thôi. Làm sao thấy được vòm trời giải thoát chứ ! ».
.
Nói rồi thầy bỏ đi. Thanh Thị thấy không khí im quá, biết là thầy không còn đứng ngoài cửa phòng mình. Thanh Thị thắc mắc không hiểu thầy đi đâu và làm gì. Chú bước ra, tìm thầy. Thầy không có trong chùa. Thầy đã đi ra ngoài. Chú bước ra cổng chùa nhìn hai bên thì thấy thầy đang cầm chổi quét ở xa xa. Thầy quét về hướng chợ. Chú bặm môi, rồi cắn răng chạy vào phòng mình, ôm mặt khóc như một đứa trẻ. Thầy đã quét chợ như cha chú đã làm trước đây. Thầy muốn chứng minh cho chú thấy rằng việc quét chợ không có gì xấu mà còn là một hạnh nguyện cao cả chỉ có cha chú mới làm nổi. Nhưng, sự cố gắng của thầy không mang lại kết quả gì. Chú vẫn không sao chấp nhận được hành vi quét chợ cho dù thầy có khoác lên đó bao nhiêu ý nghĩa cao đẹp.
.
Khi thầy quét chợ về, cất chổi dưới bếp, chú đón lạy thầy ngay ở thềm bếp, năn nỉ:
- « Lạy thầy, xin thầy đừng vì con mà phải nhọc đến thân tâm như thế. Xin thầy đừng làm vậy nữa, con không chịu nổi ».
Thầy không nói. Ngày mai thầy lại tiếp tục quét chợ. Chú lại lạy lục xin thầy chấm dứt. Thầy kiên quyết:
- « Ta chỉ ngưng khi nào con thực sự đốt cháy được cái mặc cảm và ý nghĩ cho rằng quét chợ là việc xấu hay thấp hèn. Con không thay đổi, sẽ không giải thoát, sẽ không tìm thấy an lạc cho dù đang khoác mặc tăng bào. Và nếu con không thay đổi, ta sẽ quét chợ cho đến khi nào ta nhắm mắt mới thôi ».
Thầy tiếp tục quét. Thanh Thị vẫn không thay đổi mà còn đau khổ hơn. Đến nỗi, chú bỏ thầy mà đi, chỉ ghi lại vài dòng vắn tắt rằng chú muốn đi tham học ở phương xa.
.
Chú đi xa thật xa khỏi nơi chốn sinh ra và trưởng thành của mình để xoá đi bao hình ảnh, bao ý nghĩ đau buồn về thân phận. Chú tìm tới nhiều vị thầy để học hỏi, nhưng không vị thầy nào đả thông được những mặc cảm của chú. Một hôm, nghe đến danh tiếng của một vị thiền sư tên là Đại Ngốc, chú tức tốc tìm đến vị này để học đạo vì chú hy vọng rằng ông ta cũng mang một cái tên không được tao nhã, có thể ông ta sẽ có thuốc hay để chữa căn bệnh mặc cảm của chú. Chú nghĩ có lẽ đằng sau cái tên của vị thiền sư này cũng mang một quá khứ nếu không đau xót như chú thì cũng cay chua buồn cười chứ chẳng không.
Thiền Sư Đại Ngốc ẩn cư trong một am tranh trên núi cao. Khi lên tới nơi, chú thấy một cái bảng nhỏ treo trên một thân cây :
« Đại Ngốc Am ». Chú bước vào đảnh lễ thiền sư, hỏi ngay:
- « Bạch Thầy, làm sao có thể gột bỏ được một danh từ chỉ đem lại cho mình những buồn phiền, khổ đau ? ».
- « Nó chỉ là một tên gọi giả tạo thì cần gì phải gột bỏ! ».
- « Nhưng ... rõ ràng là nó đeo bám và gợi lên bao điều đau xót cho con từ nhiều năm nay ».
- « Đeo bám chỗ nào? Gợi lên cái gì? Ở đâu? Nói ta nghe! ».
Thanh Thị hốt nhiên giác ngộ lẽ sinh diệt huyễn hoá của muôn sự muôn vật, liền sụp lạy thiền sư mà về. Chú đi ngày đêm không dừng nghỉ, những mong về quỳ dưới chân thầy mà sám hối..
.
* * * * *
.
Từ 2 năm rồi, khi Thanh Thị bỏ chùa mà đi, thầy Hải Chấn cứ mang chổi ra quét sân chùa rồi quét luôn tới chợ. Ban đầu thầy quét chỉ để thức tỉnh Thanh Thị, nhưng khi quét, thầy cảm nhận được nhiều ý nghĩa cũng như công dụng tu tập ngay trong chính sự việc quét chợ đó. Thầy tập trung tâm mình vào từng động tác quét, lắng nghe tiếng chổi khua nhẹ trên đất, nhìn ngọn chổi vờn trên cỏ rác ... không phút giây nào mà không lắng lòng vào việc quét. Đến độ, thầy với cây chổi chỉ là một. Vì vậy, âm thanh náo loạn của chợ búa không ảnh hưởng, không tổn hại gì đến tự tâm thanh tịnh của thầy. Chính trong loạn động thầy tìm thấy sự tịch lặng. Và thầy có thể an lạc trong chính việc quét chợ tầm thường hàng ngày. Trong khi đó, hình bóng của thầy, việc quét dọn của thầy giữa chợ đời cũng làm cho khu chợ sạch sẽ hơn, bớt huyên náo xô bồ, và người ta cũng bớt cạnh tranh cãi vả nhau. Mỗi lúc thấy thầy quét đến chợ, người ta bỗng dưng giảm chuyện nói năng, có nói thì nói nhỏ giọng xuống. Đức độ của thầy làm thay đổi không khí chợ một cách rõ rệt.
Hôm nay thầy đang quét đến giữa chợ, bỗng có người nắm lấy cây chổi của thầy, nói với giọng cung kính:
- « Bạch Thầy, thầy hãy về nghỉ ngơi để con quét thay thầy ».
Thầy ngưng tay ngước nhìn và thấy Thanh Thị. Khuôn mặt của chú ấy không còn dấu vết của mặc cảm, khổ đau và phiền não. Thầy mỉm cười trao chổi cho chú quét, và thầy bước theo chú, từng bước chậm.
Từ đó, cứ mỗi sáng, người ta thấy hai thầy trò tu sĩ cùng quét đường, quét chợ. Bóng dáng họ xuất hiện nơi đâu, sự an lạc lan toả ra đến đó.
.
Hai năm sau, thầy Hải Chấn viên tịch. Trước khi từ giã cuộc đời, thầy gọi Thanh Thị đến bên thiền sàng, trao cho Thanh Thị cây chổi mà thầy thường dùng để quét chợ hàng ngày: - « Đời thầy mấy mươi năm học đạo không ngờ đến tuổi xế chiều mới tìm thấy được đạo lớn từ cây chổi tầm thường này. Đây là tất cả công phu và ý chỉ của thầy. Con hãy giữ lấy mà đi cho trọn con đường của con ».
Nói rồi thầy hoá. Thanh Thị cất cây chổi đó trong phòng riêng của mình như một kỷ vật ghi lại hình ảnh cao đẹp của cha, của mẹ, và nhất là của thầy mình.
.
Sáng hôm sau, Thanh Thị vẫn cứ quét chợ. Người ở chợ thấy Thanh Thị quét một mình thì biết rằng thầy Hải Chấn đức độ khả kính của họ đã mất. Thanh Thị quét chợ cho đến tuổi già. Mấy mươi năm không hề xao lãng. Bây giờ Thanh Thị đã trở thành một vị hoà thượng đạo đức thanh cao, nổi tiếng với cây chổi và hạnh nguyện quét chợ. Hải Thanh quét chợ 6 năm. Hải Chấn quét chợ bốn năm. Riêng Thanh Thị thì quét chợ đến 60 năm. Bao khuôn mặt mới có cũ có, thay nhau ngồi bán hoặc đi mua sắm ở khu chợ, không ai mà không biết đến Thanh Thị quét chợ. Hình ảnh Thanh Thị đã trở nên quen thuộc và gắn liền với khu chợ khiến cho mọi người nẩy ý lấy tên vị hoà thượng này để đặt cho khu chợ : chợ Thanh Thị, một cái chợ sạch. Ngày Thanh Thị ngưng quét thì tuổi đã 84. Ngày ấy, bầu trời u ám. Ngoài khu chợ, cỏ rác đầy mà chẳng thấy tăm dạng Thanh Thị đâu. Chợt nghe chuông chùa vẳng lại 3 hồi buồn bã. Mọi người ở khu chợ bỗng sa lệ vì biết rằng vị hoà thượng già mang tên Thanh Thị sẽ không bao giờ cầm chổi ra quét chợ này nữa. Cả người bán lẫn khách mua đều sụt sùi khóc.
.
TÁC GIẢ: VĨNH HẢO
......
(st)
..

Wednesday, October 5, 2011

Tĩnh Động

..
..
TĨNH ĐỘNG
...
Đầu xuân, chùa làng nghi ngút hương trầm, thiện nam tín nữ chen chúc nhau vào chánh điện dâng hương bái Phật. Người ra kẻ vào ngược xuôi như bất tận, mặt ai nấy đều vui tươi phấn chấn, y rằng cuộc đời này không hề có đau khổ lo toan.. Nhưng rồi, mọi người phải cau mày nhíu mặt khi trông thấy một cô gái lạ lùng đang lảng vảng ngoài sân chùa, hệt như người từ hành tinh xa lạ mới xuống thăm trái đất.
Cô gái lạ lùng vì nổi bật giữa đám đông do có một sắc đẹp mê hồn, phải công nhận là tuyệt thế giai nhân. Dáng cao hơn một thước bảy. Tóc đen óng ả phủ dài xuống lưng. Những vòng đo lý tưởng. Đầy đặn và trắng trẻo. Gương mặt khả ái, sáng sủa. Nếu không là hoa hậu hoa khôi, thì cũng là người mẫu tầm cỡ ngôi sao. Không ai có thể nhăn mặt bực mình trước cái Đẹp bao giờ. Có điều, chỉ vì cô gái đã tự chọn cho mình bộ trang phục quá độc đáo, quá quái gở.. Chiếc váy ngắn cũn cỡn, tưởng như không còn kiểu nào ngắn hơn, khoe cặp giò dài khêu gợi. Chiếc áo thun bó sát ôm lấy thân trên bốc lửa, thân áo trước và thân áo sau được liền lạc với nhau chỉ bằng hai sợi dây mỏng mảnh vắt qua hai bên bờ vai tròn trịa và đầy đặn. Đẹp không chê vào đâu được, nhưng nếu cô ta đang đứng trên sàn diễn, hoặc đi trên phố cờ hoa rực rỡ ngoài kia. Đằng này, cô ta lại xuất hiện ngay chốn già lam tôn nghiêm thanh tịnh mới gây nên những nỗi bất bình từ những người chung quanh. Sự phẩn nộ, ghê sợ hiện rõ trên gương mặt những ai nhìn thấy cô gái, nhưng chưa ai lên tiếng thẳng thắn góp ý với con người lạ lùng, chỉ mới nghe những lời chê trách đàm tiếu nho nhỏ phía sau lưng người đẹp.
..
Một anh huynh trưởng gia đình Phật tử bước lại bên cô gái bằng sự nổ lực phi thường, can đảm tột bực, đưa cho cô ta một chiếc áo tràng màu lam, giọng nhã nhặn:
- Chào chị, chị vui lòng mặc chiếc áo này vào, nếu cần thì chị có thể mặc luôn về nhà, tôi rất lấy làm hân hạnh khi được tặng chị nhân ngày đầu năm mới!
Cô gái tròn xoe đôi mắt, nhìn anh huynh trưởng, rồi nhìn chiếc áo tràng với vẻ kinh ngạc, thản nhiên lắc đầu…
Anh huynh trưởng bực bội, giứ chiếc áo tràng tới, nói:
- Chị làm ơn mặc vào giùm cho. Đừng để mọi người khó chịu, và đừng để chư tăng nhìn thấy được mà tổn đức đó!
Cô gái nhíu cặp chân mày lá liễu, hỏi cộc lốc:
- Vì sao?
Anh huynh trưởng không còn tự chủ được, cáu gắt:
- Chị còn chưa hiểu vì sao ư? Nơi đây là chốn tôn nghiêm, không phải chỗ chợ búa hay sân khấu kịch trường, cho nên trang phục trên người chị không phù hợp chút nào, rất chướng mắt mọi người. Chị thật tình không biết, hay giả bộ không biết?
Cô gái phì cười, một nụ cười tươi tắn tuyệt đẹp, lắc đầu:
- Biết làm gì để vướng? Ai thấy chướng thì đừng nhìn. Mấy người đi chùa lễ Phật bái tăng, hay là đến đây để nhìn ngắm nhau? Ai tu nấy chứng, hãy để cho tôi yên!
..Anh huynh trưởng cứng họng, không biết phải xử sao, trong lúc nhất thời đành đứng đực ra đó với chiếc áo tràng trên tay. Thời may, có một vị sư trẻ bước lại đứng trước cô gái, xá dài một cái, cất giọng từ tốn:
- A Di Đà Phật! Cửa Từ Bi luôn rộng mở để phổ độ chúng sanh, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, trẻ già nữ nam… Nhưng, đừng vì vậy mà xem thường chốn thanh tịnh, tạo nên phiền toái. Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy, chị ăn mặc như vậy mà vào chùa, có khác nào báng bổ đạo giáo, xúc phạm Tam Bảo? Mong chị hoan hỷ mặc áo tràng vào cho…
Cô gái cười duyên dáng, hỏi:
- Thầy thấy tôi ăn mặc thế nào?
Vị tăng trẻ lúng túng:
- Ờ… thì… rất hở hang … không nghiêm túc kín đáo…và…
Cô gái đưa tay vuốt mái tóc, ưỡn bộ ngực đầy sức sống, thản nhiên nói:
- Thầy tu hành mà còn chấp quá! Tâm của thầy còn động lắm. Lục căn của thầy chưa được tinh tấn, vẫn còn vướng điều phàm tục. Tốt hơn hết, thầy nên đóng cửa nhập thất để khỏi nhìn thấy những điều bất thanh bất tịnh ở phụ nữ đàn bà!
Vị tăng trẻ xanh mặt, cúi đầu, mắt nhìn chăm chăm xuống đất, bước đi lẫn vào đám đông Phật tử ngược xuôi ngoài sân… Cô gái cười nửa miệng, quay sang hỏi anh huynh trưởng:
- Anh có vui lòng chỉ cho tôi tịnh thất của sư trụ trì không? Tôi đang rất muốn được vào vấn an ngài, và thỉnh giáo đôi điều…
Anh huynh trưởng nhíu mày nghĩ ngợi, tặt lưỡi:
- Dẫn chị vào tịnh thất của thầy trụ trì thì thật là không nên chút nào.. Nhưng, có lẽ phải làm điều dại dột này, vì chắc tình huống oái oăm khó xử như bây giờ, chỉ có thầy mới đủ đạo lực khai tâm điểm đạo cho chị thấy được phải trái!
Nói rồi, anh ta mời cô gái đi theo mình, băng qua đám đông, vào phía dãy nhà sau chánh điện. Anh ta dừng lại trước cửa một căn phòng, quay sang nói với cô gái:
- Chị vui lòng đứng chờ ở đây một lát, để tôi vào cáo bạch với thầy trước, khi nào thầy đồng ý tiếp khách, tôi sẽ ra mời chị vào. Được chứ?
- Ô-kê!
Anh huynh trưởng nhún vai ngán ngẫm, đưa tay gõ cửa ba cái. Bên trong có tiếng vọng ra: "Ai? Cần gì?". Anh huynh trưởng cao giọng:
- Bạch thầy, con là Tâm Tịnh, huynh trưởng gia đình Phật tử, có việc rất hệ trọng cần cáo bạch với thầy ạ!
Bên trong phòng vang lên giọng sang sảng:
- Tâm Tịnh đó ư? Vào đi, cửa không khoá!
Anh huynh trưởng mở cửa, bước nhanh vào trong và đóng lẹ cánh cửa lại. Cô gái đứng tủm tỉm cười, chờ đợi với vẻ háo hức.. Chừng mười phút sau, cửa mở, anh huynh trưởng bước ra, nói:
- Chị được phép vào. Nhớ giữ ý giữ tứ một chút nhé!
..Cô gái cười khẩy, bước vào phòng. Một vị tăng tuổi độ lục tuần đang ngồi trên chiếc phản mun đen bóng trong tư thế kiết già, ánh mắt sáng rực rọi chiếu thẳng vào mặt vị khách mới vào. Cô gái chấp tay xá ba cái, thưa:
- Bạch thầy, con có thắc mắc xin thầy điểm giáo…
- Cứ hỏi. Đây nghe.
- Bạch thầy, con ăn mặc như thế này, vào chùa lễ Phật bái tăng, lại bị mọi người chê trách chỉ trích, bị tăng phê bình bắt lỗi, xin hỏi thầy ai đúng ai sai?
- Ai cũng đúng. Ai cũng sai.
- Bạch thầy, người phàm cố chấp đã đành, nhưng người đã xuất gia tu hành mà vướng mắc những chuyện lễ nghi giáo điều để đi bắt bẻ con, xin hỏi thầy là đúng hay sai?
- Vừa sai, vừa đúng!
- Sao là sai? Sao là đúng?
- Sai, vì tu hành mà chấp nhặt những điều nhỏ nhặt. Đúng, vì giữ gìn thanh tịnh cho chốn già lam tôn nghiêm, đó là bổn phận, là nhiệm vụ phụng sự Tam Bảo, hoằng dương Chánh Pháp!
- Con từng nghe rằng, ngọn cờ phấp phới bay, thật ra cờ không bay mà gió bay, nhưng thật ra gió chẳng động mà do Tâm của con người đang động. Phải vậy chăng?
- Thật hay! Thật hay!
- Vậy, theo thầy thì con ăn mặc ra sao?
- Bình thường.
- Đáng trách hay đáng khen ạ?
- Hợp thời trang. Hiện đại. Gọn gàng. Tiết kiệm. Nếu người mặc không hề thấy ngượng nghịu, không chút gượng gạo, không phải âu lo, thong dong khứ đáo xuất nhập như rồng đạp mây, thì thật là đáng khen ngợi. Nếu mặc vào mà luôn thấy bị gò bó, thấy như bị mang của nợ, mang xích xiềng, không thoải mái đi đứng nằm ngồi thì thật là đáng thương, tội nghiệp, chứ không đáng trách!
Cô gái cười khanh khách ra điều thích thú. Sư trụ trì bật cười ha hả, tiếng cười tự tại vang động như đã rung chuyển cả giàn ngói rong rêu của tịnh thất. Rồi im lặng như tờ. Cô gái cất tiếng:
- Thầy thật cao thâm, vững như bàn thạch!
- Có phải đó là mục đích chính của cô khi ghé thăm bổn tự?
-
- Im lặng, tức đã thú nhận. 
-
- Cô mang một chút am hiểu giáo lý nhà Phật, một chút kiến thức cơ bản về sự Tĩnh Động, cố tâm cố ý vào chùa để thử thách cái Tâm Đạo của tăng ni giáo đồ. Sự cố ý làm cho người khác chao đảo tâm ý chính là ác tâm, chính là động rồi đó!
- Bạch thầy, quả đúng là con động. Nhưng đâu phải thấy người động mà mình phải động theo, phải vậy không thầy?
- Phải nhớ quanh cô đều là những chúng sanh đang tu, còn tu, chứ chưa có ai đắc đạo, chưa ai giải thoát được mình!
- Chỉ có thầy là tĩnh thôi sao?
- Vì đây là tịnh thất. Tâm người phải tĩnh, phải tịnh.
- Thầy không trách con về chuyện ăn mặc này thật sao?
- Không trách, mà còn khen. Áo quần chỉ là ngoại vật. Chúng vô tri vô giác, không tội tình gì. Chúng là vật ngoại thân, không là một bộ phận của thân thể con người…
- Và thân thể con người cũng chỉ là giả tạm…
- Chỉ là đất, nước, gió, lửa hội tụ tạo nên. Thân xác này còn là thứ bên ngoài, huống chi là quần với áo, xiêm với y?
- Chỉ cái Tâm bên trong mới là quan trọng?
- Tính động đều từ nơi ấy. Cho nên, nếu cô đã có gan ăn mặc hở hang thiếu thốn vải vóc để vào cửa thiền, thì hãy phát huy thêm bản lĩnh mà trút bỏ hết xiêm y giả tạm ra khỏi tấm thân giả tạm ngay nơi đây đi!
-
- Trút bỏ hết đi!
..
Sư trụ trì quát lên. Cô gái giật bắn mình, vội quỳ mọp xuống, đầu dập đất mấy cái. Sư lại quát:
- Trút hết. Rồi đi ra ngoài, dạo một vòng vãn cảnh mau đi!
- Bạch thầy… con không dám. Con không dám .Con xin dập đầu tạ tội. Đội ơn thầy đã khai tâm điểm đạo!
...
Anh huynh trưởng đứng chờ ngoài hành lang với ruột nóng gan sôi, cứ như đang đứng trên tổ kiến bồ nhọt.. Và rồi, cánh cửa tịnh thất đã mở toang. Cô gái lạ lùng đã bước ra ngoài với vẻ mặt rạng rỡ tươi vui. Lạ lùng hơn, trên người cô ta đang mặc một chiếc áo nhật bình của tăng chúng. Cô gái cười chào anh huynh trưởng, bước thoăn thoắt hướng về phía chánh điện. Anh huynh trưởng lè lưỡi, bước nhón chân lại khép cánh cửa tịnh thất thật nhẹ nhàng. Rồi anh chấp tay xá ba cái về phía bên trong cánh cửa vô tri, nói:
- Quả đúng là chỉ có thầy mới trị được quỷ sứ ma vương!
Anh ta thở phào nhẹ nhõm. Đầu năm vui thật. Thật là vui.
...
Hoàng Ngọc Ấn (Belgium) sưu tầm.

Wednesday, August 31, 2011

Lắng nghe Muôn Cung Đàn

ĐÊM TÀN BẾN NGỰ
..
NHẠC: DƯƠNG THIỆU TƯỚC
TIẾNG HÁT: NGỌC HẠ
..
...
.....
TA LẮNG NGHE MUÔN CUNG ĐÀN
......
(BIÊN KHẢO CỦA TÁC GIẢ TUỆ CHƯƠNG HOÀNG LONG HẢI)
..
Tại Việt Nam, mỗi vùng có những thú vui âm nhạc khác nhau. Có thứ âm nhạc dành cho giới trí thức, có thứ cho giới bình dân. Ngoài Bắc thì có ca trù, hát chèo; miền Trung thì có ca Huế và hò Huế; dĩ nhiên Nam Bộ có cải lương. Các loại âm nhạc nầy, ban đầu phổ biến trong giới thượng lưu, trung lưu… dần dần phát triển trong giới bình dân. Ca trù, hát chèo đã vậy, cải lương, ở phía Nam cũng có tính chất chuyển biến như vậy...
..
Huế thì khác! Ca Huế là thú chơi của giới trung lưu hay vua, quan, còn hò Huế như hò giả gạo, mái nhì, mái đẩy phổ biến trong giới bình dân.
..
Nói chung, âm thanh Huế có nhiều hình thức đặc biệt khiến người Huế đi xa cũng khó quên.
..
Tuy nhiên, trước hết, âm thanh quyện lấy tâm hồn người Huế là những tiếng chuông chùa. Người Việt Nam ai chẳng ít nhiều lần nghe tiếng chuông chùa. Làng nào chẳng có chùa. Người Việt Nam khi lập làng là lập chùa nên bên cạnh đình làng có chùa làng. Tiếng chuông chùa làng âm vang mỗi sáng sớm, mỗi chiều hôm, lắng đọng trong tâm hồn người dân làng. Do vậy, trong hành trang tâm hồn viễn xứ của người Việt Nam, bao giờ họ cũng mang theo tiếng chuông chùa.
..
Ở Huế có nhiều chùa. Phía tây bắc Huế là một vùng đồi núi mênh mông, trãi dài bên bờ hữu sông Hương. Và trên những ngọn đồi đó, trong một khu vườn âm u, là những ngôi chùa vắng lặng bên cạnh lăng tẩm vua chúa và quan lại: Chùa Trà Am bên cạnh lăng cụ Kinh Tế, chùa Tường Vân bên cạnh lăng Tự Đức, v.v... Tiếng chuông chùa không chỉ ru hồn các bậc vua chúa nay còn lẩn khuất đâu đó trong lăng tẩm âm u, trong vườn nhãn sum suê hoa quả. Tiếng chuông chùa cũng đọng lại đó, trong tâm hồn người dân Huế.
..
Những đêm thanh vắng, trời êm, không gió lộng, không mưa dầm rỉ rả hay mưa dông ầm ì, người dân Huế có thể nghe tiếng chuông chùa Linh Mụ từ trên đồi Hà Khê vọng về. Tiếng chuông ngân dài, tưởng chừng như cái đuôi của âm thanh kéo đi rất xa, tới cuối thiên nhai mù mịt, hay tận đáy tâm hồn của mỗi người.
..
Tiếng chuông Linh Mụ không chỉ là tiếng nói “sắc không”, mà còn là tiếng gọi của hồn dân tộc. Nếu mai đây có mất đi tiếng chuông chùa Linh Mụ thì chính là mất đi tiếng hồn dân tộc đấy.
..
Không, tôi không cường điệu khi viết như thế. Câu văn sau đây của linh mục Sảng Đình Nguyễn Văn Thích đã để lại trong tôi những ấn tượng sâu xa về một tiếng chuông chùa mang hồn dân tộc:
“Tổ quốc ta, ta phải nghe trong tiếng chuông Linh Mụ”
..
Đây là câu vỡ lòng cho bọn học sinh khi học những “Bài tập đọc” đầu tiên trong đời.
..
Cả hàng trăm năm nay, tiếng chuông Linh Mụ vẫn âm vang mỗi sáng mỗi chiều, nhưng ca Huế thì hình như mỗi ngày bị lãng quên, cũng giống như tiếng ca của các cô đầu ở phố Khâm Thiên, Hà Nội.
..
Một chế độ sụp đổ là kéo theo nhiều cảnh suy vi. Khi vị vua cuối cùng triều Nguyễn đọc chiếu thoái vị là một trang sử mới bắt đầu, với nhiều đau thương và máu lửa. Huế không còn cảnh thanh bình. Tiếng đàn, tiếng hát vang dậy mỗi đêm trên giòng sông Hương không còn nữa. Cảnh đó, người đó, tâm sự đó, có còn chăng cũng chỉ là tiếng than ngậm ngùi trong bài hát “Đêm Tàn Bến Ngự” của Dương Thiệu Tước. Triều đại đó, tiếng ca, tiếng đàn đó, còn lại chăng cũng chỉ trong cảnh “Đêm tàn”.
..
Có lẽ tư tưởng trong các bài hát chèo, ca trù của Hà Nội, cải lương của Saigon, không sâu sắc lắng đọng trong tâm hồn người nghe bằng những lời ca trong Nam bình, Nam ai, Bình bán, Sa mạc, v.v… của ca Huế. Nó mang mác tính chất vô vi của Lão Trang, sắc không của nhà Phật, và nỗi đoạn trường của Huyền Trân Công Chúa trên bước đường lưu lạc hay trong cảnh lưu đày của vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân…
..
Nếu Huyền Trân than thở “Cái tình chi đượm mùi son phấn, đền nợ Ô-Ly” thì vua Thành Thái đau lòng khi đặt câu ca Nam bình tả cảnh đi đày “Kéo neo tàu chạy…”
..
Tàu chạy là tàu ra biển bắc, đưa vị vua bị truất ngôi đày qua châu Phi.
..
Đó là khúc ca Nam ai, Nam bình sầu than, là tiếng khóc của biết bao nhiêu Thúy Kiều thời đại chỉ thấy “Đời vui chi trong sương gió”, là bến Tiêu Tương ly biệt, hay “Bên Cô Liêu” trên bờ sông Dịch Thủy, là “Tình đã lạt phai” khi đêm tàn, là tâm trạng bơ vơ của những người Việt mất nước, không định hướng, than rằng “Thuyền ơi! Đưa ta tới đâu?”
..
Người ta hiểu tất cả những lời than của Dương Thiệu Tước viết ra trong bài hát của ông, nhưng tại sao các đấng vua quan trong triều, ngoài tỉnh vẫn nghe, vẫn hát khúc Bạc Tần Hoài mỗi đêm trên giòng sông Hương. Người ta vẫn biết, vẫn hát, vẫn than cho một triều đại suy tàn, cho vận nước điêu linh, cho một trăm năm Pháp đô hộ mà vẫn vô tình như “Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa”.
..
Ai theo gương Lê Lợi, Quang Trung, ai vẫn mê con hát như vua Trần Hậu Chủ khi giặc đã tới bên lưng, khi giặc đè đầu cưởi cổ dân tộc. “Than ôi! Nhân tâm ly tán, thế sự đảo điên”, người ta không còn “phân biệt đâu là chính, đâu là tà” nữa chăng? Người ta vẫn phê phán vua Trần Hậu Chủ và vẫn cứ mê khúc hát Hậu Đình. Tâm tình người Huế thật phức tạp.
..
Điều đáng buồn!!! Ca Huế, nhạc cung đình, những âm thanh đặc biệt và đặc sắc của Huế, ngày nay, tại Việt Nam, ngay tại Huế, trở thành một thứ hàng buôn bán, biến thành một thứ vật chất tầm thường, đem rao bán cho kẻ “người trần mắt thịt”, “trưởng giả học làm sang”. Cái được gọi là “cung đình” nay bị đem ra nơi “chợ búa”. Có thể đó là một cuộc “cách mạng văn hóa Huế” hay chăng?
..
Có hàng trăm năm, Huế là thủ đô chính trị, văn hóa toàn quốc. Do đó, Huế là nơi sinh hoạt của vua, hoàng thân quốc thích và quan quyền các giới. Cũng thời kỳ đó, kinh tế Huế cũng có tính tự túc. Nhu cầu sinh hoạt của vua quan được các làng, xứ chung quanh cung cấp. Sinh hoạt đó thể hiện một cách sơ lược qua vài câu ca dao như “Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu, Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh” hoặc “Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.” Ngoại trừ chợ Cầu là nơi xa nhứt, thuộc phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, các địa danh khác là những vùng rải rác quanh Huế. Việc chuyên chở hàng hóa đem về bán cho Huế hoặc ngược lại, thường bằng đò dọc. Từ Vĩnh Linh đến cầu Hai, ngang qua Huế hay không cũng được, có thể di chuyển bằng đò trên sông mà không phải ra biển. Thuyền đò chỉ phải qua phá Tam Giang là nơi to rộng nhất và chỉ đôi khi mới có sóng lớn.
...
Những chiếc đò di chuyển trên sông, trong cảnh chiều hôm man mác, trong sương lam lạnh lùng mờ ảo, trong tâm trạng nhung nhớ những chuyến đi dài ngày, làm cho tâm hồn khách thương hồ ít nhiều xúc cảm. Tức cảnh sinh tình, những người chèo đò cất lên tiếng hò lanh lảnh, ít khi vui tươi và cũng không kém phần buồn bã. Có khi một chiếc thuyền đi trước, một chiếc thuyền đi sau, khoảng cách không quá gần để không thấy nhau rõ ràng, không quá xa để tiếng hò không nghe rõ. Tiếng hò đuổi bắt qua lại, trước sau trên sông tạo nên những niềm hứng khởi, những tình cảm lãng mạn, tha thiết của những nghệ sĩ nam nữ sông nước mênh mông:
..
“Thuyền ai đi trước,
Cho tôi lướt đến cùng
Chiều đã về trời đất mông lung
Phải duyên thì xích lại
Cho đỡ não nùng tiếng sương."
..
Cách dùng chữ trong các câu hò nhiều khi súc tích, bóng bẩy, không thua kém gì văn chương bác học. “Não nùng tiếng sương”. Não nùng là tiếng thường thấy trong văn chương bác học. “Tiếng sương” cũng như “tiếng nhạn kêu sương” (Con nhạn lạc bầy kêu sương) chưa hẵn trong văn chương bác học đã có. Còn khung cảnh mênh mông sông nước trên sông dài trời rộng là một hình ảnh không kém chất trữ tình.
..
Tôi từng cố tìm kiếm xem thử trong giới ca sĩ hiện tại có ai có thể thể hiện những câu hò mái nhì mái đẩy tôi đã từng được nghe khi còn trẻ. Người nghệ sĩ thuộc loại nầy cần có hai khả năng đặc biệt: Một là giọng, hai là hơi. Giọng hò thường trong, êm và thánh thót. Hơi phải mạnh khỏe và dài. Tài năng đó, vượt trội khả năng “Thằng mõ” của Lê Thánh Tôn: “Cả tiếng và dài hơi” (Mõ nầy cả tiếng lại dài hơi). Tiếng hay giọng và hơi và hai khả năng căn bản mà một ca sĩ cần có. Cả hai điều nầy, bây giờ, trong giới ca sĩ lại ít thấy!
..
Phần thứ hai của dân ca Huế là hò giả gạo. Hò giả gạo xuất hiện ở những vùng quanh Huế, gần nhứt là An Cựu hay An Hòa, Bao Vinh, không phải ngay Huế nên xin khỏi bàn.
..
Tuy phân biệt thành hai thứ âm nhạc cho giới vua quan và hàng dân dã, nhưng không phải không có sự tác động qua lại giữa hai hình thái âm nhạc nầy. Trong những đêm chơi đàn trên sông Hương, các ca kỹ Nam ai, Nam bình, cũng đôi khi cất cao giọng hò mái nhì mái đẩy. Ngược lại, trong giới bình dân, người ta cũng có khi tụ họp chơi đàn bầu, đàn nguyệt, tỳ bà và ca Nam ai, Nam bình, âm nhạc cung đình. Triều đình không độc quyền, không ngăn cấm thú chơi văn nghệ đó trong hàng dân dã.
..
Bây giờ, xa Huế đã lâu, và tóc cũng đã nhiều sương muối, có lẽ không ít người quên rằng, mình, một thời từng là “khách hàng trung thành” (giống như độc giả trung thành của quí báo) của một chị, một o, một dì bán bún dạo, bán chè hay trứng vịt lộn nào đó.
..
Các thành phố lớn đều có người đi bán dạo. Do đó, người Saigon khó quên tiếng “xực tắc” của chiếc xe hủ tiếu, và người Huế cũng khó quên tiếng rao “bún bò”, rao “chè đậu xanh đậu ván” hay “trứng lộn đây” (1) của những người bán dạo.
..
Khi đã là “khách hàng trung thành”, chỉ nghe tiếng rao, người ta có thể hình dung ra gánh bún bò, rổ chén bát và xách chè của người bán, và cả hình ảnh quen thuộc của họ. Hình ảnh ấy, thường là những người đàn bà mặc áo vá vai.
..
Áo vá vai là một hình ảnh đặc biệt, chỉ ở Quảng Trị, Huế mới có. Tôi đã “thường đi đó đây” trên khắp bốn vùng chiến thuật, không thấy đâu có hình ảnh người đán bà mặc áo vá vai như Trị-Thiên và Huế. Hình ảnh các mẹ, các o, các chị mặc áo vá vai đó gây cho tôi không ít xúc động về “quê hương tôi nghèo lắm ai ơi” nên tôi đã từng viết về chiếc áo vá vai nầy.
..
Buổi sáng mùa hè, dậy muộn, bụng đói, nhưng chưa chịu ăn sáng, còn chờ tiếng rao “bún bò” của người bán hàng quen thuộc. Hoặc khi học bài thi vào khuya, bụng trống đi đã nhiều, các cô chú học trò còn chờ tiếng rao chè, rao trứng vịt lộn của “người quen.” Người Huế cầu kỳ, phải chờ cho đúng người nấu hợp khẩu vị của mình mới chịu ăn. Ít ai “thực bất tri kỳ vị.”
...
Trong một khung cảnh sinh hoạt như thế, Huế không thiếu những tiếng rao hàng vào buổi sáng hoặc vào buổi khuya. Có tiếng rao lanh lãnh, từ đầu xóm vang tới cuối xóm. Người rao đang ở bên đường Bộ Thị, khách ở bên đường Bộ Tham hoặc trên “Thượng Thành” nghe vẫn rõ lắm.
...
Rồi bất chợt, một hôm nào đó, đang ngồi nhớ Huế, kể chuyện Huế, không ít người nhớ lại tiếng rao hàng mình đã nghe mấy chục năm trước. Âm thanh ấy, không phải là bài hát, không phải tiếng hò, không phải tiếng ca mà nghe như tiếng hò, tiếng hát, tiếng ca, “cũng khó mà quên được.”
..
Tiếng rao phát ra từ miệng, có ai đã từng nghe tiếng rao ấy phát ra từ những sợi giây đồng. Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đứng giữa lớp, đưa cây vĩ cầm lên kẹp vào hàm, đặt archet lên mấy sợi giây đồng. Và tay ông thầy dạy nhạc kéo qua lại một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Bỗng cả lớp phì cười vì tiếng đàn phát ra, y hệt như tiếng rao: “chè đậu xanh đậu ván.” Kỷ niệm ấy, dù muốn quên cũng không tài nào quên được.
..
Bài nầy viết ra, không nhằm mục đích khảo cứu âm nhạc, nhất là ca Huế, nét đặc sắc nhất của âm thanh Huế, nhưng có lẽ người viết cũng không quên thưa với độc giả rằng, ca Huế không phải tự dưng mà có.
..
Trong hành trang “Về phương nam” của các lưu dân thời chúa Nguyễn, trước hay sau năm 1558, là năm Nguyễn Hoàng mở cuộc Nam tiến vĩ đại của người Đại Việt về phương Nam, không thiếu những nét nhạc của người dân sinh sống lâu đời ở lưu vực sông Nhị. Có người căn cứ vào tên gọi như điệu “Sa Mạc” mà cho rằng ca Huế mang âm hưởng của nhạc Mông Cổ; hoặc căn cứ vào những âm thanh não nuột, rên rỉ, than oán của Nam ai, Nam bình, để cho rằng, nhạc ấy chịu ảnh hưởng thanh âm của một dân tộc, người Chàm, trên đường diệt vong.
..
Vì vậy, khi nghe ca Huế, ít khi người ta thấy vui. Có phải đó là tiếng than của những người mất nước, là khúc Tây Thiên (2) của người Chiêm Thành, là khúc Hậu Đình (3) của các thương nữ trên sông Hoài, khi vua Trần Hậu Chủ sắp mất ngôi, hay tiếng than của một dân tộc đang bị dày xéo dưới gót chân người Pháp xâm lược, của bốn ông vua chịu kiếp lưu đày (4)
...
Tác giả: Tuệ Chương Hoàng Long Hải...
.
----------------------
..
Chú thích:
..
(1) Người Huế gọi “trứng vịt lộn”; người Nam gọi là “hột vịt lộn”
...
(2) Năm 1044, vua Lý Thái Tông đánh vào kinh đô Phật Thệ, bắt cung nữ Chiêm biết múa hát khúc Tây Thiên đưa về Bắc.
..
(3) Bạc Tần Hoài
Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa
Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia
Thương nữ bất tri vương quốc hận
Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa
(Đỗ Mục)
-------
Khói nhòa trên sông lạnh
Bãi cát phủ trăng vàng
Tần Hoài thuyền cập bến
Đêm về quán rượu gần
Thương nữ nào hay vong quốc hận
Hậu Đình Hoa khúc cứ ngâm vang
(THINH QUANG Dịch)
...
(4) Kể từ Gia Long, triều Nguyễn có 14 đời vua (Kể cả Cường Để). Bốn vua lưu vong là: Hàm Nghi, Thành Thái (cha) Duy Tân (con) và Cường Để. ..
..
(ST).

Friday, August 5, 2011

Người Sa-Di

..
ĐẠO
..
Người sa-di đi đã nhiều ngày dọc theo bờ sông.  Con sông nào rồi cũng chảy ra biển cả nhưng sông thì dài mà bước chân thì ngắn.  Trên hành trình người đã thấy nhiều nỗi đau, đã thấy giọt mồ hôi giữa cơn lửa hạ cháy bỏng ruộng đồng, đã thấy mưa dầm nước ngập cả thôn xóm, đã thấy những thù hận hóa thân thành binh khí reo lên những tiếng kêu sắt máu, đã thấy những bữa tiệc ê hề nơi này và người chết đói nơi kia, thấy niềm hoan hỉ trên khuôn mặt trẻ thơ, thấy sự thèm khát khoái lạc của chúng sinh và thấy năm tháng khắc trên mặt mỗi người già nỗi buồn vô hạn...
..
Mỗi ngày khi rạng đông người sa-di nhìn về phía mặt trời tụng một thời kinh cầu mong một ngày an lạc cho tất thảy chúng sinh.  Mỗi ngày khi hoàng hôn người sa-di lại cúi đầu tụng một thời kinh cảm ơn ngày đã qua đi, cảm ơn những bước chân đã dẫn người về gần với biển.  Người sa-di đi đã lâu.  Biển vẫn còn xa.  Người sa-di già theo năm tháng nhưng dòng sông vẫn mãi tươi trẻ và ngày một lớn rộng.  Nhiều lần tưởng dòng sông là biển rồi lại thấy mình lầm.
...
Một chiều nọ người sa-di không đi được nữa, không bao giờ đứng dậy đi được nữa, sức đã cùn.  Biển vẫn còn xa.  Người sa-di vẫn là người sa-di, sông vẫn chảy.  Người sa-di đánh rơi bình bát của mình xuống con đường.  Giữa một chút bụi mù chỗ cái bình bát rơi xuống, trước khi tia nắng cuối cùng kịp tắt, lần duy nhất trong cuộc đời người sa-di còn kịp nhìn thấy hằn lên cát bụi, lên con đường một chữ mờ ảo:  Đạo.
..
(N T sưu tầm)
8/5/11