Wednesday, June 6, 2012

thơ Thanh Tâm Tuyền

Xin giới thiệu một bài viết về thơ THANH TÂM TUYỀN.
..
THƠ THANH TÂM TUYỀN, TỪ SIÊU THỰC ĐẾN CA DAO
..
TÁC GIẢ: LÊ PHỤNG



.
...
Thanh Tâm Tuyền (1936- 2006)
(hình 1966)
..
Dòng thơ siêu thực, phát triển tại Pháp, lan tràn khắp thế giới, từ Âu Mỹ sang Á Châu, trong thời gian khởi đầu từ cuối cuộc thế chiến I, và giải tán vào năm 1969. Vào cuối thời gian đó, giới văn học Việt Nam, Thanh Tâm Tuyền (1936-2006) đã đưa vào thi đàn Việt Nam dòng thơ tự do và tiểu thuyết siêu thực. Mục đích của bài viết này là đối chiếu thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền với thơ của một vài thi nhân Pháp trong cao trào văn học siêu thực, và thử nghiệm một phương pháp đọc tiểu thuyết siêu thực.
.......
Kết quả sơ khởi cho thấy là Thanh Tâm Tuyền, thành công trong công trình mở rộng chân trời thi đàn Việt Nam. Đặc biệt là Thanh Tâm Tuyền không những đổi mới được hình thức thơ, mà còn đưa vào thi đàn Việt Nam những chủ đề mới mẻ nhưng vẫn giữ được phong thái của căn tính thi ca cổ truyền Việt Nam. Hơn nữa Thanh Tâm Tuyền còn ứng dụng được cách sáng tác tiểu thuyết siêu thực, gây được sự cộng tác giữa người viết và người đọc để đưa vào tiểu thuyết những khám phá mới cho thể văn tiểu thuyết, và đưa tiểu thuyết Việt Nam vào quỹ đạo quốc tế.
... 
Cao trào Văn học Siêu thực
....
Trước hết, bài viết xin trình bày vắn tắt về Cao trào Văn học Siêu thực. Bắt đầu là câu chuyện nguồn gốc của trào lưu quốc tế này. Tên Siêu Thực của trào lưu văn học này do nhà thơ Guillaume Apollinaire đặt ra vào khoảng mùa xuân năm 1917. Giới nghiên cứu đồng ý rằng trào lưu siêu thực bắt nguồn từ những tư tưởng tiền tiến, moderne, nhưng dòng tư tưởng này không chỉ thuần nhất là một dòng tư tưởng văn học nghệ thuật, mà ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của những tư tưởng chính trị cùng thời. Nếu nhìn theo tên tuổi của những thành viên siêu thực, thủa mới thành lập, thì có nhiều người từng là thành viên của nhóm Dada. Nhóm này ra đời từ giữa thế chiến I, tại Thụy Sĩ, một quốc gia trung lập. Tại thời điểm đó, vấn đề của con người là ý nghĩa của cuộc chiến tranh với câu hỏi để làm gì? Rồi câu hỏi này lan tràn sang mọi hoạt động của con người, và câu trả lời là: cả văn hóa cả thế giới đều vô nghĩa. Nói một cách khác, nhóm Dada đã tách con người ra khỏi cảnh sống thực. Muốn sống thực, thì người nghệ sĩ phải ra khỏi nhóm Dada. Từ đó phát sinh ra phong trào Siêu Thực. André Breton, người sau này được coi là Giáo Hoàng của trào lưu Siêu Thực.
..
(…) Lâchez tout
Lâchez Dada
Lâchez votre femme, lâchez votre maitresse.
Lachez vos espérances et vos craintes
Semez vos enfants au coin d’un bois
Lâchez la proie pour l’ombre (…)
..
Khó có thể xác định chắc chắn được ngày phong trào siêu thực ra đời. Giới nghiên cứu thừa nhận hai ngày đáng ghi nhớ. Một là ngày ra mắt cuốn Champs Magnétiques của Breton và Soupault; hai là ngày nhóm siêu thực trình bày phương pháp sáng tác tự động, l’écriture automatique.  Thực ra ở những ngày đó, nhóm siêu thực hãy còn ở trong vòng trứng nước. Nhóm siêu thực tôn trọng ý kiến chung và phương pháp sáng tác tập thể.
....
Nhìn suốt văn học sử, sự kiện các nhà văn nhà thơ kết hợp thành một nhóm, không phải chưa từng có, nhưng sáng tác tập thể quả là một phong trào mới mẻ. Phương pháp sáng tác tập thể kéo dài suốt từ ngày đầu tới ngày chót của nhóm siêu thực. Hợp quần không chỉ làm nên sức mạnh mà còn tạo nên những tác phẩm văn học mới lạ. Điểm mới lạ khác là điểm tác giả viết theo những cảm hứng vô thức không phải là một độc quyền của phái siêu thực, trước đó Victor Hugo cũng có nhiều tác phẩm sáng tác bằng phương pháp này. Nhưng cái đẹp và nhất là chiều sâu của những tác phẩm siêu thực cho thấy là tác giả siêu thực đã đưa toàn diện con người công chính vào tác phẩm. Nhóm siêu thực tự tạo ra một phương pháp sáng tác, đặt trên nền tảng những công trình nghiên cứu tường tận.
......
Năm 1924, nhóm siêu thực thành lập một Ban nghiên Cứu Siêu Thực, Bureau de Recherches Surréalistes, đặt trụ sở tại số 15 đường Grenelle, Paris. Nhóm siêu thực công bố thành quả của các thành viên bằng những tạp chí văn học, cũng như những cuộc triển lãm và những cuộc thăm dò ý kiến bạn đọc dùng làm phương tiện đánh giá những thành quả của cả nhóm. Nhóm siêu thực còn đưa ra những bản tuyên ngôn nhân danh toàn thể thành viên, và còn phát những truyền đơn quảng bá một vài nét đặc thù của nhóm, tỷ như việc phát những truyền đơn có tính cách bài ảnh tượng, iconoclastes; những hoạt động này thường làm mất lòng giới tiểu tư sản. Đằng khác, phần đông thành viên siêu thực xuất thân từ gìới tiểu tư sản, nên phái siêu thực tiếp tục nhiều công trình nghiên cứu.mà giới tiểu tư sản hằng đeo đuổi. Phái siêu thực thành công trong ba ngả nghiên cứu rất khoa học, cả ba ngả cùng bắt nguồn từ giới tiểu tư sản.
....
Một là những gặp gỡ tình cờ, hasard objectif , biểu thị sự quy hợp giữa sự thật và đam mê, tỷ như con người gặp thời, hoặc một biến cố xẩy ra đúng lúc. Phái siêu thực không đặt niềm tin vào một ngôi cao cả, thế nên những gặp gỡ đúng người đúng lúc thường được coi là những lẽ huyền diệu, do đó, trong thời gian giữa hai cuộc thế chiến, nhiều người coi phái siêu thực như một phái có bùa phép huyền bí.
....
Hai là nét khôi hài, hay duyên hài, humour. Với sự tôn trọng nét khôi hài, phái siêu thực đặt mình ra khỏi vùng bóng dáng nhưng trào lưu mang mặt nạ trang nghiêm. Dưới nét khôi hài thành viên siêu thực nhìn rõ được tâm tính con người. Đi xa hơn nữa, phái siêu thực chủ trưong dùng bút thuật cuồng phóng, hay nôm na là thơ điên. Chính nhờ bút thuật cuồng phóng nhà văn nhà thơ siêu thực được hoàn toàn tự do trong việc sáng tác. Nhiều thành viên chủ trương rằng không có hoàn toàn tự do tức là không có siêu thực, bởi không có tự do là không có cái nhìn toàn diện trên mọi sự vật.
....
Ba là sự quan trọng của hình ảnh trong việc sáng tác. Một áng văn siêu thực tuyệt tác là một áng văn trong đó hình ảnh giữ vai trò chủ chốt có sức thu hút người đọc chẳng kém gì ma túy. Cái đẹp của một bài thơ đánh giá bằng chuỗi hình ảnh trong bài thơ. Gốc cội của tính quan trọng của hình ảnh trong văn học bắt nguốn từ nhà thơ Pierre Reverdy (1889-1960). Những hình ảnh này đặt hai thực thể, thông thường rất xa nhau, nay sát bên nhau. Hai thực thể đó nếu không có con mắt siêu thực khó lòng nhìn ra mối tương quan. Giá trị của một hình ảnh tùy thuộc vào cái đẹp của tia sáng do hình ảnh đó tỏa ra. Tương tự, cái đẹp của hai hình ảnh siêu thực, là cảnh hai người xa lạ, không quen mà đã trao nhau nụ cười. Đứng trước một hình ảnh siêu thực, con người như đã đưa ngón tay sờ vào tính siêu thực, tính siêu thực này không đối nghịch với thực tế, nhưng ở một tầm quan trọng sâu rộng hơn.
....
Ba chủ đề chính
...
Từ những công trình nghiên cứu kể trên, thành viên phái siêu thực sáng tác theo:.....
1. Mơ trong mơ;
2. Yêu tình yêu;
3. Giải phóng tự do.
.......
Với trào lưu siêu thực, giấc mơ là tiếng nói của uyên huyền. Đối nghịch với lý luận, nhưng giấc mơ không phải là không quan trọng, trái lại giấc mơ cho thấy nửa sâu kín của con người: thiếu giấc mơ, những điều hiểu biết về con người thành không hoàn chỉnh. Quan điểm này không phải là một điều mới lạ, từ Âu sang Á. Đã có rất nhiều áng văn viết về giấc mơ, trong lịch sử đã có nhiều chuyện đoán mộng, kể cả trong Kinh Thánh.
...
Giấc mơ biểu thị cho căn tính con người. Thế nên, trào lưu siêu thực, với mục đích giải phóng cho con ngưởi, đã chọn giấc mơ làm điểm chủ chốt để thực hiểu rõ con người. Nhưng rõ ràng là giấc mơ là một cảnh giới uyên huyền, còn nhiều điều cần khám phá. Đến đâu là chân trời của giấc mơ, nơi mà tại đó đời sống vô thức của con người không còn bị lý lẽ và xã hội kiểm duyệt.
.....
Giấc mơ của thành viên siêu thực có nhiều điểm tương đồng với thuyết phân tâm học của Freud. Nhà khoa học này cũng muốn đo lường vô thức con người. Dầu có điểm tương đồng trong phương pháp, nhưng giữa hai chủ thuyết có sự khác biệt về mục đích. Freud tìm ra sự khác biệt giữa mơ và thực để đưa con người trở lại đời sống bình thường. Phái siêu thực đi tìm cái đồng nhất giữa mơ và thực tế để dẫn con người tự giải thoát, tiến tới tự do.
Trong việc nghiên cứu vô thức con người, André Breton đã đối mặt với hai chữ cuồng phóng, hay nôm na là chứng bệnh điên. Cảnh giới của người điên không phải là cảnh giới của người bình thường. Người điên nhìn sự vật theo cái nhìn của người điên. Người điên như vậy được giải phóng khỏi những chuẩn mực thông thường của xã hội. Việc tìm hiểu con người sẽ chưa hoàn tất khi giấc mơ và chứng điên chưa hiểu được tường tận. Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền còn thiếu một chương dành cho người mơ và người điên.
....
Ghi lại những hình ảnh trong mơ, dĩ nhiên không phải là một bút thuật dùng lý trí, cảnh giới trong mơ không phải là cảnh giới ngoài đời thực tế. Giới nhà văn siêu thực dùng bút thuật ghi lại những chữ những câu phát xuất trực tiếp từ vô thức. Thường thường do một nhóm nghệ sĩ đồng sáng tác. Bút thuật này mang tên là bút thuật tự động, écriture automatique, và được coi là căn bản của dòng thơ siêu thực.
.....
Chuyển sang chủ đề thứ hai, giới nghiên cứu đồng ý là thành viên trào lưu siêu thực đã đề cao tình yêu: lấy tình yêu làm trọng tâm của mọi hoạt động văn học nghệ thuật, tựa như Descartes đã lấy lý luận đề sáng tác Discours de la Méthode.
....
Với những người sáng lập ra trào lưu siêu thực, như André Breton, như Louis Aragon, tình yêu không chỉ là một chủ đề, tình yêu chính là thể hiện của cả thuyết siêu thực. Trong tác phẩm Le Paysan de Paris, Louis Aragon viết, “L’amour était sa source, et je ne veux plus sortir de cette forêt enchantée.”
.....
Nhiều thành viên trào lưu siêu thực thay đổi lập trường chính trị như thay áo, nhưng không có một ai phủ nhận giá trị cao cả của tình yêu. Phải chăng đó là nét không tưởng của trào lưu siêu thực? Với những người trong trào lưu siêu thực, tình yêu không phải là một trò đùa rỡn qua ngày, cũng chẳng phải là một công việc quan trọng mà con người đeo đuổi, mà tình yêu chính là ý nghĩa của cuộc sống con người trên hành tinh này.
......
Tình yêu siêu thực không phải là một tình yêu trừu tượng hướng thượng tới một ngôi cao, ở ngoài hành tinh này. Tình yêu siêu thực đặt trên con người, và trên hết cả, người nghệ sĩ siêu thực đặt tình yêu trên người nữ. Tình yêu này bắt nguốn từ cái đẹp của người nữ, từ ánh sáng tỏa ra từ cái đẹp của người nữ. Aragon viết “Tout ce qui vient d’elle nous éclaire” trong cuốn Anicet ou le Panorama.
Hình ảnh người nữ siêu thực như vậy khác với hình ảnh người nữ của Baudelaire, vì người nữ theo Baudelaire không phải là một hình ảnh lý tưởng, mà vẫn còn có điều khiếm khuyết. Thế nên, hình ảnh người nữ lý tưởng siêu thực gần gận với hình ảnh người nữ trong văn học cổ, từ thời Phục Hưng. Trong truyền thống đó, người nữ trở nên nàng thơ muse của thi văn nghệ sĩ siêu thực, tựa như Elisa của André Breton, Gala đối với Paul Éluard và sau đó đối với họa sĩ Salvador Dali.
....
Đối với văn nghệ sĩ siêu thực, người nữ không phải chỉ là một đối tượng mỹ thuật, mà chính là biểu tượng ý nghĩa của cuộc sống. Không ai hiểu người nam hơn người nữ. Thế nên có nhiều người nữ lèo lái mọi hoạt động của người nghệ sĩ siêu thực. Với André Breton và Paul Éluard, có một mối tương quan mật thiết giữa vũ trụ và người nữ. Với nhà văn Géral de Nerval (1808-1855) viết trong cuốn L’Amour Fou, người nữ là một sinh thể thiêng liêng; với Julien Gracq, không có người nữ cuộc sống không còn ý nghĩa.
..
Để giải thích tình cảm ngưởi nghệ sĩ siêu thực dành cho người nữ, giới nghiên cứu, đặc biệt là Xavier Gauthier, trở lại thoại cổ về con người toàn phần. Theo lời Platon, trong truyện Le Banquet, thì thời sơ khai, con người toàn phần nửa là người nam nửa là người nữ dính liền với nhau làm một, sống thoải mái sung sướng giũa các vị thần linh. Nhưng rồi có một vị hung thần, trong cơn tức giận mang tách dời con người toàn phần thành hai nửa riêng biệt. vứt xuống trần gian, khiến cả hai nửa cùng khổ sở, lang thang đi tìm nhau bằng mọi cách cho tới khi gặp lại được nhau. Đó là thân phận của con người, không có ai thoát khỏi.
..
Thần thoại con người toàn phần ám ảnh André Breton. Theo ông, có một ngày nào đó nửa người nam sẽ gặp lại được nửa người nữ, nửa này độc nhất trên trần gian, nửa này là đối tượng của tình yêu của người nam dành cho người nữ: gặp nhau là họ nhận ra được nhau vì cả hai nửa, nủa nọ thương yêu nửa kia, từ khi tái sinh làm người, họ yêu nhau từ khi sinh ra đời, không phải chỉ tới trọn đời mãn kiếp mà mãi mãi. Người nữ đó chính là số phần của người nam và ngược lại người nam đó là số phần của người nữ. Cuộc gặp gỡ giữa hai nửa con người toàn phần là tiếng sét ái tình của người Âu Mỹ, và là duyên trời của người Á Đông. Với thành viên trào lưu siêu thực, cuộc gặp gở giữa hai nửa con người hoàn toàn là thành quả tất nhiên của mong ước, désir, của cả hai nửa con người toàn phần. Cuộc gặp gỡ này mang lại ý nghĩa cuộc sống cho cả người nam và người nữ.
....
Cuộc tình giữa hai nửa con người hoàn toàn, theo André Breton là một cuộc tình không tàn, nhưng trong thực tế cuộc tình đó dầu thắm thiết tới đâu cũng là có ngày tan. Người siêu thực đổ lỗi cho những tập tục của xã hội làm tan những cuộc tình không tàn đó. Đây là một điểm mà các thành viên siêu thực không nhất trí. Chính điểm không nhất trí này đã chia rẽ đoàn thể thành viên siêu thực, chứ không phải chỉ riêng sự bất đồng chính kiến chính trị.
.....
Thành viên trào lưu siêu thực đa số tự coi mình là người vô thần, nhưng riêng trong việc vinh danh người nữ, thành viên siêu thực, không khác gì tín đồ đạo Ky Tô vinh danh bà Maria với cả trăm tước hiệu, nên người nữ trong thi văn nghệ thuật siêu thực cũng có rất nhiều mặt.
......
Theo Xavier Gauthier, những khuôn mặt chính của người nữ trong phái siêu thực gồm hai loại kể sau, mỗi loại lại có nhiều hình thái khác nhau. Loại thứ nhất là:
.....
1. Người nữ thiên nhiên, hay người nữ hiền hậu gồm có:
. người nữ hoa niên: như các người nhi-nữ, femme enfant, những trinh nữ
. người nữ trái chín: như hình ảnh trái mít của Hồ Xuân Hương;
. người nữ bao dung: như những mẹ hiền, như nàng thơ
. người nữ thiên thần: như những thần nữ, tiên nữ
...
2. Người nữ đa đoan, gồm những:
. người nữ ngoài tầm với, insaisissable ;
. người nữ giang hồ
. ngưòi nữ tài hoa xấu số, femme fatale
. người nữ phù thủy, femme sorcière.
..
Ngoài tình yêu, ngoài đam mê, con người còn có tình dục, sexualité. Trào lưu siêu thực cũng chú ý tới tình dục. Tập tục xã hội rất khe khắt với tình dục. Thế nên, với người trong trào lưu siêu thực giải thoát bản năng giới tính là giải thoát con người khỏi đè nén của xã hội. Giải thoát tình dục cũng là một mặt của công trình giải thoát đam mê, đưa tình yêu lên mức độ tình yêu tuyệt đỉnh, đưa con người đến tự do. Cuộc cách mạng giới tính và cuộc tranh đấu cho nữ quyền là hai biến cố làm thay đổi bộ mặt xã hội Âu Mỹ và lan rộng khắp thế giới trong thế kỷ XX.
....
Tự Do mà trào lưu siêu thực đeo đuổi Tự Do tuyệt đối. Ước vọng tự do của con người là một ước vọng căn bản phi tương nhượng. Tự Do là chủ trương của mọi cuộc nổi dậy cũng như của mọi cuộc cách mạng. Con người bị giam cầm trong các chuẩn mực xã hội, trói buộc trong những đối đãi của tập tục (tựa như mơ/thực, thể xác/tâm thần). Trào Lưu siêu Thực cho rằng không có tự do ngoài tự do toàn diện. Trào lưu siêu thực tiếp tục công trình đấu tranh dành tự do của cuộc cách mạng năm 1789. Dành tự do trong xã hội, tự do trong suy tư, tự do cho tất cả mọi người. Tự do là mầu sắc của con người. Thế nên trong hai thập niên 20 và 30 thế kỷ vừa qua, tự do là khẩu hiệu của mọi công cuộc tranh đấu chính trị.
.....
Lập trường của trào lưu tự do siêu thực là chống lại độc tài toàn trị, chống lại chủ nghĩa thực dân áp bức dân thuộc địa. Thế nên cả cộng sản cả thực dân trở thành kẻ thù của phong trào siêu thực. Riêng câu hỏi chủ chốt thời đó là “cộng sản có thật lòng mang lại tự do cho con người hay không?” cũng đã chia rẽ hàng ngũ phái siêu thực. Pierre Grouix viết, “Là où la littérature soude le groupe, la politique et l’histoire le désagrègent.
.....
Nhiều bạn bè đã từng nhau cùng sáng tác theo phương pháp tự động, nay trở thành cừu địch. Ngoài vấn đề chính kiến trên đây, thành viên siêu thực còn chia rẽ trên nhiếu quan điểm khác. Sự chia rẽ đó đưa phong trào siêu thực tới chỗ suy tàn sau khi André Breton tạ thế.
Để thực hiện ba chủ đề kể trên, trào lưu Siêu thực ứng dụng bốn kỹ thuật kể sau:
....
1. Duyên hài, humour;
2. Nét huyền diệu, merveilleux;
3. Giấc mơ
4. Nét cuồng phóng, aliénation mentale.
..
Với nét duyên hài, người văn nghệ sĩ, tách mình ra khỏi cuộc sống, để nhìn cuộc sống như một tấn tuồng. Trên sân khấu cuộc sống, con người chỉ là những hình nộm bị người kéo dây điều khiển. Nhìn thấy những sợi dây điều động người nộm, thời cuộc sống chỉ còn là một trò cười, không còn điều gì đáng gọi là quan trọng. Nói ra mặt trái của cuộc sống là làm đảo lộn trật tự xã hội. Nét duyên hài chỉ là mặt nạ của cảnh sống trong thất vọng. Nhưng đồng thời nét duyên hài cũng biểu thị ý chí muốn tự giải thoát khỏi những ràng buộc của xả hội. Dưới tiêu đề La révolution Surréaliste, Marco Ristitch viết :
.......
Sentir la vanité lamentable, l’absurde irréalité de tout, c’esr sentir sa propre inutilité, c’est être inutile. Alors, il faut ou bien s’anéantir, ou bien se transformer, se dépasser par une négation substantielle … Le surréalisme va droit à la zône interdite.
...
Nét duyên hài phá bỏ những cái tầm thường trong cuộc sống, đổi hướng trí tuệ về những nẻo đường mới, chẳng ai ngờ tới, xóa bỏ nhưng chân trời quen thuộc, để sửa soạn cho người nghệ sĩ nhìn thấy một thực thể mới lạ. Thực thể đó là chủ nghĩa Siêu Thực, trong đó lý trí, luận lý nhường chỗ cho trí tưởng tượng và mở ra một không gian đầy hình ảnh cuồng phóng. Nghệ sĩ siêu thực giúp cho con người vượt qua những giới hạn của xã hội duy lợi, bước vào một thế giới đầy huyền diệu như một tiên cảnh.
.....
Theo André Breton, duyên hài không chỉ dẫn dắt con người trong cảnh giới của tưởng tượng, mà còn làm cho con người nhìn ra một thế giời bao gồm cả những thực cảnh cùng những cảnh trong mơ. Ngày nay, giới khoa học, trong nhiều bộ môn, công nhận lập trường của André Breton. Nhiều kết quả khoa học không còn duy nhất khách quan mà trái lại dựa trên những kinh nghiệm chủ quan. Tóm lại người nghệ sĩ siêu thực ứng dụng bốn kỹ thuật kể trên nhằm mục đích đưa con người tới tự do hoàn toàn, vượt ra ngoài mọi giới hạn của xã hội duy lợi, không chờ tới mai sau, không phải tìm tới nơi nào khác mà ngay tai nơi đây và ngay tại lúc này.
.....
Ngoài những điều căn bản tóm tắt trong những trang trên về trào lưu siêu thực, người đọc nhận thấy còn cần phải trình bày thêm một điểm, đó là:
....
Cách đọc Thơ Siêu thực
.....
Có trước mắt một bài thơ siêu thực, người đọc bất kỳ trong ngôn ngữ nào cũng thấy bài thơ khó hiểu, hoặc theo ngôn ngữ thông thường là tối như hũ nút, hoặc cho là bài thơ thuộc loại kén người đọc. Nhưng nay, thơ siêu thực bắt đầu được đưa vào chương trình văn học cấp trung học, thế nên thơ siêu thực đã dần dần được đại chúng ưa chuộng.
.....
Thực ra, không riêng một mình thơ siêu thực, mà với tất cả mọi loại thơ: thơ là một ngôn ngữ. Ngôn ngữ của thơ thường vượt xa ý tưởng bao hàm trong lời thơ. Ngôn ngữ thơ siêu thực là những hình ảnh. Hình ảnh không phải là một điển tích. Dùng ngôn từ giải nghĩa từng hình ảnh trong thơ siêu thực là giết chết thơ siêu thực. Mỗi hình ảnh thơ siêu thực có một vẻ huyền diệu riêng. Tập hợp cả chuỗi hình ảnh huyền diệu đó mới tạo ra ý thơ. Y thơ thường không phải là nét mới mẻ của thơ siêu thực. Nét mới mẻ là cách đặt hình ảnh bất ngờ cạnh nhau để diễn tả ý thơ. Không dùng ngôn từ mà dùng hình ảnh để làm thơ, theo giới thành viên siêu thực chính là nới rộng tự do cho thi nhân và cả độc giả để độc giả và tác giả cùng nhau sáng tác một hứng thơ mới. Đó là nét đa dạng của thơ siêu thực.
..
Quan Niệm Thơ của Thanh Tâm Tuyền
....
Cũng như Hàn Mặc Tử và qua bài Quan Niệm Thơ(8), Thanh Tâm Tuyền viết về quan niệm thơ của mình. trong tác phẩn ngắn, tám câu, dưới đầu đề(9), Một Bài Thơ:..
.....
Người tài xế mặc áo đen
chiếc xe hàng vắng
mưa xứ nắng buồn dậy muộn
tình nhân thở dĩ vãng vuốt ve
không đa đa siêu thực
thẳng thắn
khởi từ ca dao sang tự do.
...
Trong tám câu bài thơ trên đây, người đọc chú ý và viết nghiêng câu câu thứ sáu và câu thứ tám và hiểu rằng đó là hai câu Thanh Tâm Tuyền mô tả đường lối làm thơ của ông. Đó là một giả thiết. Trong giả thiết đó, người đọc hiểu, qua câu thứ sáu, rằng tác giả muốn đoan chắc rằng ông không phải là một thành viên những trường phái văn học dada và siêu thực, của Pháp mặc dầu thơ ông có hình thức mới lạ tương tự như hình thức thơ siêu thực. Sang câu thứ tám Thanh Tâm Tuyền khẳng định đường lối làm thơ của ông, khởi từ ca dao và trực tiếp sang thẳng thơ tự do.
....
Để kiềm nghiệm giả thiết này, người đọc phải trở lại thi phẩm của ông và đi tìm xem dưới hình thức mới lạ của thể thơ mà ông gọi là thơ tự do, có thực có mầm mống bắt nguồn từ cao dao hay không.
..... 
Trong bài Chim, ông viết tặng Nguyễn Sỹ Tế, một thành viên trong nhóm chủ trương tạp chí Sáng Tạo có đoạn bốn câu:
...
ai hỏi anh ngoài hàng dậu
lãng mạn lập thể siêu thực giã thú đa đa
tôi mở những trái cây vườn nhà
cử chỉ trữ tình tinh khiết
những bước đi văn nghệ chim sẻ
mầu ngói nâu dựng vực mắt nâu.
.......
Người đọc hiểu qua chuỗi hình ảnh trên đây là có người ở ngoài hàng dậu, nói với Nguyễn Sỹ Tế về chuyện những thi phái, lãng mạn, lập thể, siêu thực và đa đa; trong khi anh ở bên này hàng dậu Thanh Tâm Tuyền mở những trái cây vườn nhà. Đó là một cử chỉ trữ tình tinh khiết, cử chỉ này làm người đọc liên tưởng tới câu ca dao quen thuộc, ta về ta tắm ao ta, trên con đường làm văn nghệ, với những bước đầu như bước chân chim, trong khung cảnh mái ngói nâu của căn nhà Việt Nam, và mầu mắt nâu của người Việt Nam. Qua sáu câu này, người đọc thấy rõ là những trao lưu lãng mạn, tập thể, siêu thực, dada đều ở ngoài khu vưòn trong đó có Thanh Tâm Tuyền và Nguyễn Sỹ Tế. Rồi trong đoạn cuối có câu, người bộ hành cô đơn chờ đêm để lên đường về quá khứ.
....
Ba chữ về quá khứ, từ năm 1955, năm Thanh Tâm Tuyền xuất bản thi tâp "Tôi không còn cô độc", làm người đọc ngày nay liên tưởng tới phong trào đi tìm căn tính, identité trong lĩnh vực văn hóa nửa đầu thế kỷ XX, trước sự xâm nhập của văn hóa Pháp; cũng như ngày nay trước đà tiến của trào lưu hoàn cầu hóa.
....
Cũng trong thi phẩm Tôi không còn cô độc, tiếp theo bài Chim, là bài Mưa Ngủ ông viết tặng Trần Thanh Hiệp, có câu, “Hồn nhiên tôi trở thành thi sĩ ca dao nhẹ nhàng những nhát cuốc đầu xới lần áo mỏng ruộng đồng.”
Chuỗi hình ảnh trên cho người đọc hình dung ra cái cảnh cô độc của người trai trẻ hồn nhiên đang thành tâm muốn trờ thành thi sĩ ca dao, với những cố gắng thử thách đầu tiên.
.....
Ca dao là gốc rễ thơ Thanh Tâm Tuyền, khiến thơ Thanh Tâm Tuyền ăn sau vào lòng đất Việt Nam, thế nên ca dao là phần tiềm ẩn sau kín trong thơ Thanh Tâm Tuyền. Tuy nhiên, trong một vài thi phẩm, ca dao hiện ra trong thơ Thanh Tâm Tuyền như một đóa hoa lý ngát hương giữa màn đêm, tỷ như trong bài Mưa Ngủ:
.....
Mưa bên kia sông mưa nửa dòng nước
Ta thương cô mình như nước nhớ chân
Hoa dù tàn muôn vạn ngàn lần
Lòng ta vẫn chỉ một lần yêu thương
....
Ca dao trong thơ Thanh Tâm Tuyền cũng là ca dao tự do, ca dao biến thể, cũng vẫn là những câu nối tiếp có vần lưng, nhưng có những vần lưng là vần trắc, ngoài luật ca dao thông thường.
Trên một hướng khác, chủ trương khởi từ ca dao sang tự do và hành trình của thi nhân Pháp từ thơ sang thơ siêu thực tự do dường như song song.
......
Thật vậy, ứng dụng công thức của Lautrémont, La poésie doit être faite par tous. Non par un, thì câu thơ do nhiều người làm chính là một câu ca dao. Thơ siêu thực xuất phát từ cách sáng tác tự động, cũng do nhiều người làm; thế nên ý kiến lấy ca dao làm gốc cho thơ siêu thực của Thanh Tâm Tuyền cũng tương đồng với việc thơ siêu thực tây phương bắt nguồn từ sáng tác tự động vậy.
.....
Hai mươi năm sau bài Chim trích dẫn trên đây, do thời thế, Thanh Tâm Tuyền trở thành người tù không có án, Thanh Tâm Tuyền làm thơ theo thể sáu-tám của ca dao. Đó là bài thơ thứ nhất trong thi phẩm Thơ ở đâu xa: Ngày Đến Long Giao
...
Tỉnh mơ xe đến Long Giao
Đám người đám cỏ tranh cao ven đường
Ngửng trông núi khuất mờ sương
Mây bay tất tưởi, mưa rong tần ngần
Tiêu điều ngơ ngác trại quân
Ngổn ngang chiến cụ trận tàn bầy phơi
Đất bùn đỏ bết chân người
Xanh um bờ bụi tả tơi lũy đồn
Nhà trống trải vách gió ruồng
Vắng tanh thố lộ tình xuông lạ lùng
Rắn trơ nền nhớp ngả lưng
Hé trời manh múm rách bươm gió đùa.
..
Bài thơ làm theo thể sáu-tám, khác hẳn những bài thơ tự do ông làm từ 20 năm về trước, nhưng phong thái siêu thực, khi nay và nơi này, của Thanh Tâm Tuyền vẫn nguyên vẹn trong hai câu chót. Mặt nền rắn và nhơ nhớp, đó là nơi đây của ông, và tia mặt trời ló giữa khe mây rách bươm gió đùa là khi này của ông, ông chấp nhận cả hai thoải mái ngả lưng nằm nghỉ.
Từ gốc rễ ca dao, thơ Thanh Tâm Tuyền lớn mạnh, và tác giả mô tả dòng thơ đó bằng điệp khúc, Tôi sống thường trực bằng hình ảnh.
...
Thanh Tâm Tuyền đã nhắc lại điệp khúc này bốn lần trong bài Hình ảnh. Chuỗi hình ảnh trong đó Thanh Tâm Tuyền sống thường trực có nhưng biến hình của ca dao. Trong bài Người Yêu(14), Thanh Tâm Tuyền viết, “Em vào vườn trèo lên cây bưởi / mời mọi người dự đám cưới đôi ta.” gợi cho người đọc hình ảnh cây bưởi đầy gai nhọn trong câu ca dao quen thuộc, Trèo lên cây bưởi hái hoa / Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
..
Ca dao đã biến thể vào thơ Thanh Tâm Tuyền thành hai câu vần lưng mang thanh trắc. Thanh trắc này là một may mắn, như ông viết trong bài Định Nghĩa Một Bài Thơ Hay, “may mắn như bài thơ gồm những âm trắc đồng tình.”
Xin tạm ngưng chuyện gốc rễ ca dao trong thơ Thanh Tâm Tuyền ở đây. Đi xa hơn nữa xin để mở dành cho giới nghiên cứu sau này.
........
TÁC GIẢ: LÊ PHỤNG......
..................
Lệ Đá Xanh
..
tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình
em biết không
lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi
..
đôi khi anh muốn tin
ngoài trời chỉ còn trời sao là đáng kể
mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em
đến ngày cuối
..
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời thơm phức những trái cây của thượng đế
mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em
nguồn sữa mật khởi đầu
...
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em
vòng ân ái
...
đôi khi anh muốn tin
ôi những người khóc lẻ loi một mình
đau đớn lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi
..
Thanh Tâm Tuyền
..
Dạ Khúc.
..
Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta
Bóp chết mọi hi vọng
Nên anh dìu em đi xa
..
Ði đi chúng ta đến công viên
Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối
Ôi môi em như mật đắng
Như móng sắc thương đau
Ði đi anh đưa em vào quán rượu
Có một chút Paris
Ðể anh được làm thi sĩ
Hay nửa đêm Hanoi
Anh là thằng điên khùng
Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới
Chiếc kèn hát mãi than van
Ðiệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng
Sao tuổi trẻ quá buồn
như con mắt giận dữ
Sao tuổi trẻ quá buồn
như bàn ghế không bầy
..
Thôi em hãy đứng dậy
người bán hàng đã ngủ sau quầy
anh đưa em đi trốn
những giày vò ngày mai
..
Thanh Tâm Tuyền
..
(N T, C2 sưu tầm)

Friday, June 1, 2012

Thu-Lê: giọt buồn



GIỌT BUỒN
..
Mưa thu thổn thức rơi
Từng giọt từng giọt buồn
Vườn hoang ai dẫm nát
Hững hờ dấu chân buông
..
Một đoạn đời đã qua
Một đoạn tình phôi pha
Nhạt nhòa bao mộng ước
Chôn vùi một xác hoa
...
Lá vàng ngập ngừng bay
Lìa xa cành hao gầy
Buồn vương lên cỏ úa
Say nhạc sầu ngất ngây
...
Ta một mình lẻ bóng
Hứng giọt buồn chơi vơi
Chân trời xa vời vợi
Mưa thu thổn thức rơi.

thơ  Đoàn Thu Lê

Thursday, May 10, 2012

Nụ cười trăng _Thơ Tiểu Muội


(nguồn: Internet)
.
NỤ CƯỜI TRĂNG
...
Ô hay trăng bỗng mĩm cười
Lung linh đôi mắt sao trời lung linh
Trên cao mĩm nụ cười xinh
Vành môi trăng, nụ cười tình dễ thương
Nụ cười trăng giữa trời sương
Trăng nên thơ, để phố phường nên thơ
Nụ cười trăng, nụ cười mơ
Nhìn đời trăng bỗng vu vơ mĩm cười
.
Này em xin hãy nhìn tôi
Và xin hãy nở nụ cười xinh xinh
Này em xin chớ vô tình
.
thơTiểu Muội.

Wednesday, April 18, 2012

Đêm từ biệt V N

..
......
.
Đêm Từ Biệt Việt Nam
..
Tác giả: Trần Hoài Thư
....... 
Lăn chiếc phuy dầu lên cá lớn
Trời ơi, ta từ biệt Việt Nam
Việt Nam. Đêm ấy đêm trừ tịch
Có những con người lại cách ngăn
..
Chào những đường thân, những lối quen
Những hàng cây rũ lá bên thềm
Chào cây cầu đá qua thành phố
Chào những bờ hiên, những cột đèn
..
Chào ai, lầm lũi trong đêm lạnh
Cơn gió giao mùa chớm lá xuân
Người về cho kịp đêm đoàn tụ
Ai lại lên đường. Ai lặng câm
..
Vẫn biết lần đi là bỏ hết
Là phủi tay. Cháy túi. Sạch trơn
Quay nhìn lại: Em còn bóng nhỏ
Ngọn đèn vàng lạnh một dòng sông
..
Về đi. Em nhớ đừng ôm mặt
Rồi thắp giùm anh một nén nhang
Con có hỏi anh. Em hãy chỉ
Mây dịu dàng trôi giữa mênh mông
..
Về đi để tiếp đời cô phụ
Tiếp mảnh hồn khô héo nhớ nhung
Mai mồng Một, cắn răng đừng nấc
May cuộc đời tươi đẹp mùa xuân
..
Về đi để trả bài ma quỉ
Những đau thương câm nín chất chồng
Em hãy lấy ngày này giỗ kỵ
Một ngày nào chim đã bặt tăm
..
Về đi, kẻo máy tàu đã nổ
Như những người ôm ngực con tim
Trong khoang chật, nghe chừng nín thở
Anh hùng đâu. Một nỗi lặng thinh
..
Gió trừ tịch hú dài Bãi Giá
Đập mạn thuyền, sóng vỗ buồn tênh
Đêm vượt thoát ai ngồi nín thở
Cả quê nhà, mờ nhạt hai bên
..
Lăn chiếc phuy dầu lên cá lớn
Trời ơi, ta từ biệt Việt Nam
Việt Nam. Một vệt mờ xa thẳm
Một chút rưng rưng bật xé lòng
..
Việt Nam. Tối quá, không đèn lửa
Ta ở trên thuyền ngực vỡ toang
Một nỗi buồn như đông đặc lại
Một nỗi vui oà vỡ cả hồn
..
Là lúc biết mình như thoát nạn
Sáng chân trời, hồng rực vầng dương
Là lúc, thấy mình như bất hạnh
Sắp làm người không có quê hương
..
Là lúc lòng dửng dưng chờ đợi
Nỗi dửng dưng buồn bã lạ lùng
Như thể trong một trời chuyển động
Một giọt sương cô độc tận cùng
..
Tác giả: Trần Hoài Thư..
(nguồn: blog Trần Hoài Thư - http:// tranhoaithu.wordpress.com)
..
(N T  sưu tầm)........
....

Saturday, April 14, 2012

Nguyệt Cầm

NGUYỆT  CẦM
Sáng tác: Cung Tiến

Tuesday, April 10, 2012

Chìa khóa của niềm vui

..
.
CHÌA KHÓA CỦA NIỀM VUI
....
Tác giả chuyên mục nổi tiếng Sydney Harries và một người bạn dừng chân mua báo ở một quầy bán báo, người bạn mua xong rất lịch sự nói lời “cám ơn” nhưng người chủ quầy báo thì ngược lại, mặt lạnh như tiền một tiếng cũng không mở miệng.
..
Hai người rời quầy báo tiếp tục đi về phía trước, Sydney Harries hỏi “ông chủ đó thái độ kỳ quái quá phải không”?
..
Anh bạn nói “cứ mỗi buổi tối là anh ta đều như vậy cả”.
.
.Sydney Harries lại hỏi tiếp “như vậy, tại sao bạn lại đối xử tử tế với ông ta chứ”?
..
Người bạn trả lời: “tại sao tôi để ông ta quyết định hành vi của tôi chứ”?
..
Một người biết nắm chắc chìa khóa niềm vui của mình, thì người đó không đợi chờ người khác làm cho mình vui mà ngược lại mình còn có khả năng đem niềm vui đến cho người khác.
..
Trong tâm của mỗi người đều có “chìa khóa của niềm vui”, nhưng chúng ta lại không biết nắm giữ mà đem giao cho người khác cầm giữ.
...
Một người phụ nữ thường than phiền trách móc: “tôi sống rất buồn khổ, vì chồng tôi thường vắng nhà!”, cô ta đã đem chìa khóa niềm vui của mình đặt vào tay chồng.
...
Một người mẹ khác thì nói “con trai tôi không biết nghe lời, làm cho tôi thường xuyên nổi giận!”, bà đã trao chìa khóa niềm vui của mình vào tay con trai.
..
Một vị trung niên của một công ty thở dài nói “công ty không thăng chức cho tôi, làm tinh thần tôi giảm sút,...!” anh ta lại đem chìa khóa niềm vui của cuộc đời mình nhét vào tay ông chủ.
...
Bà cụ kia than thở “con dâu tôi không hiếu thuận, cuộc đời tôi sao mà khổ!”.
Một thanh niên trẻ từ tiệm sách bước ra la lên “thái độ phục vụ của ông chủ đó thật đáng ghét, ...” ..
...
Những người này đều có một quyết định giống nhau, đó là để người khác chế ngự tình cảm của mình.
..
Lúc chúng ta cho phép người khác điều khiển và chế ngự tinh thần chúng ta, chúng ta có cảm giác như mình là người bị hại, đối với tình huống hiện tại không có phương pháp nào khác nên trách móc và căm giận, việc này trở thành sự lựa chọn duy nhất của chúng ta. ..
Chúng ta bắt đầu trách móc người khác đồng thời chúng ta cũng truyền tải một yêu cầu là “tôi khổ như vậy là do anh/ chị/con ...và anh/ chị/con... phải chịu trách nhiệm về nỗi khổ này”! Lúc đó chúng ta đem trách nhiệm trọng đại phó thác cho những người xung quanh và yêu cầu họ làm cho chúng ta vui.
..
Chúng ta dường như thừa nhận mình không có khả năng tự chủ lấy mình, mà chỉ có thể nhờ người nào đó xếp đặt và chi phối mình. Những người như thế làm người khác không muốn tiếp xúc, gần gũi, lý do là nhìn họ mà thấy sợ vì chỉ nghe trách móc, hờn giận.
..
Nhưng, một người biết nắm chắc chìa khóa niềm vui của mình thì người đó không đợi chờ người khác làm cho mình vui mà ngược lại mình còn có khả năng đem niềm vui đến cho người khác.
..
Tinh thần người đó ổn định, biết chịu trách nhiệm về chính mình không đổ lỗi cho người khác; biết làm chủ xúc cảm và biết tạo, cũng như giữ được niềm vui cho chính mình, như thế thì trong cuộc sống và công việc hằng ngày người đó sẽ thảnh thơi vui vẻ không bị áp lực từ người khác.
..
Chìa khóa của bạn ở đâu rồi? Đang nằm trong tay người khác phải không? Hãy nhanh lên mà lấy lại bạn nhé!!! Chúc mọi người đều giữ được niềm vui.
 ..
(sưu tầm)
....

Saturday, March 17, 2012

Bạch Vân Cư Sĩ

Xin giới thiệu bài viết của Thầy Hà Thúc Hoan.
Xem như đây là bài Giảng Văn bổ túc thầy gởi cho các học trò cũ Đồng Khánh 67 (vì ngày xưa Thầy chưa kịp dạy thì hết giờ...)



.
HẠNH PHÚC VÀ MÙA XUÂN CỦA BẠCH VÂN CƯ SĨ
...
Trong tập san Văn hoá Phật giáo số 95, ra ngày 15.12.09, tác giả NguyễnThế Đăng đã mở đầu bài viết Tản mạn về tiếng Việt bằng cách trích dẫn bài thơ vịnh cảnh nhàn của Bạch Vân cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm:
...
“Một mai một cuốc một cần câu,
Thơ thẩn dù ai vui thú nào.
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao.
Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.” (1)
..
Ở bài báo nói trên, NguyễnThế Đăng chỉ mượn thơ nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm để dẫn người đọc vào bài nghị luận trình bày những kiến thức khái quát về “Phép lạ của ngôn ngữ”. Ở đây, chúng tôi phân tích tác phẩm này để tìm hiểu Hạnh phúc và mùa xuân của Bạch Vân cư sĩ.

Bạch Vân cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm ( 1491 – 1585 ) từ thời thơ ấu đã được mẹ là con gái Hộ bộ Thượng thư họ Nhữ và cha là Thái học sinh Nguyễn Văn Định giáo huấn, sau đó theo học với danh nho đương thời là Bảng nhỡn Lương Đắc Bằng. Lớn lên, gặp buổi Lê suy, chính sự đổ nát, Nguyễn Bỉnh Khiêm không đi thi, chỉ ngồi nhà đọc sách và dạy học. Mãi đến năm 44 tuổi, dưới triều Mạc Đăng Doanh, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới lai kinh ứng thí và đậu Giải nguyên, năm sau dự kỳ thi hội và đỗ Trạng nguyên. Được vua nhà Mạc trọng dụng, làm quan đến chức Lại bộ Tả thị lang, dâng sớ xin trị tội 18 lộng thần mà vua không nghe, Nguyễn Bỉnh Khiêm xin về trí sĩ sau 8 năm tham dự việc triều chính. Có một lần vua Mạc Phúc Hải khẩn khoản vời Nguyễn Bỉnh Khiêm hồi triều với chức Công bộ Thượng thư, song ông lại xin về ngay để vui sống với cảnh nhàn cho đến lúc mất vào năm 95 tuổi.
.....
Tóm lược tiểu sử tác giả như trên chúng ta mới hiểu hết ý nghĩa của hai câu đề. Quan nhất phẩm triều đình hồi hưu mà không ở trong nhà cao cửa rộng để gia nhân hầu hạ (2), đến khi xuất hiện trên trang thơ thì không thấy mặc áo gấm hay đeo bài ngà Thượng thư. Thật là ngạc nhiên đến thích thú khi chúng ta nhìn thấy ở đây hình ảnh một Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm bình dị với nhiều dụng cụ lao động :
“Một mai một cuốc một cần câu,
Thơ thẩn dù ai vui thú nào.”
....
Thế mới biết ở vị đại thần đã hưu trí này, ở nhà trí thức lỗi lạc của thế kỷ XVI này, không hề có sự phân chia giàu với nghèo, quan với dân, lao động chân tay và lao động trí óc. Qua đó chúng ta được biết tuy sống với cảnh nhàn nhưng “người học trò già” (3) Nguyễn Bỉnh Khiêm không quên lao tác như một lão nông hay một ngư ông. Tuy nhiên, điểm khác biệt ở đây là nhà thơ nhàn không lao động cần cù, vất vả như một ngư phủ hay nông dân thứ thiệt. Nhà thi sĩ chỉ “thơ thẩn” … Từ láy điệp phụ âm đầu “thơ thẩn” này, chúng ta không nên hiểu theo nghĩa luân lý mà chỉ nên hiểu theo nghĩa triết lý. “Thơ thẩn” là không gấp gáp bước chân, đã thôi rong ruổi kiếm tìm. “Thơ thẩn” là thong dong cất những bước chân an lạc và thảnh thơi, “vì đã về, đã tới, bây giờ và ở đây”…
....
Sau Nguyễn Bỉnh Khiêm ba thế kỷ, Giải nguyên Nguyễn Công Trứ dùng cách chiết tự để định nghĩa “nhàn” là tĩnh, trái với “náo” có nghĩa là động (4). Viết hai câu thực, Nguyễn Bỉnh Khiêm diễn tả tự nhiên, dung dị chủ đề cảnh nhàn với ý nghĩa vừa nêu :
“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn người đến chốn lao xao.”
....
“Nơi vắng vẻ” là cảnh nhàn thanh tĩnh, vô vi. Đó là thiên nhiên với cây cỏ tươi xanh, thôn xóm hiền hoà, ruộng đồng quang đãng mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng sống gắn bó từ khi còn thơ ấu cho đến năm 45 tuổi. Đó là Bạch Vân am, nơi nhà hiền triết quy ẩn từ năm 53 tuổi để sống bình dị, thanh cao cho đến cuối đời. “Chốn lao xao” là chỗ ồn ào, náo nhiệt. Đó là cuộc trần ai vinh liền nhục, khóc lẫn cười. Đó là chốn triều đình với nhiều phép tắc, lễ nghi ràng buộc mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạm dung thân trong 8 năm, sau đó nhà thi sĩ – đạo sĩ đã cáo quan về hưu để lại trường danh lợi cho 18 lộng thần tranh giành tiền tài và chức vị.
......
Dưới con mắt của phần đông người đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm bị cho là “dại” vì đã từ bỏ quyền cao chức trọng cùng với bổng lộc hậu hĩ của nhà Mạc để trở về làng quê sống cuộc đời dân dã, thanh bạch. Cái “dại” này cũng có chỗ tương đồng với cái “dại’ của Phật hoàng Trần NhânTôn khi từ bỏ ngai vàng như ném một chiếc giày rách để lên núi Yên tử sống đời đạo hạnh của bậc chân tu. Như Tĩnh giới Thiền sư đời Lý đã “Kham tiếu thiền gia si độn khách”, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhờ biết “Ngu dại chan chan tính đã quen” (6) nên đã tìm thấy hạnh phúc chân thật. Những ai suốt đời chỉ biết chạy theo tiền tài và địa vị để đốt cháy đời mình bằng lửa dục vọng như con thiêu thân tự huỷ diệt bằng cách lao vào ngọn lửa đỏ, những ai đó sẽ không thể nào hiểu được hạnh phúc của những xuất trần thượng sĩ đã chấp nhận cái “dại” hiền triết này.
..
Bạch Vân cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã trao truyền cho hậu thế nghệ thuật sống để hưởng nhàn, để có hạnh phúc chân thật qua hai câu luận có hình thức giản dị mà nội dung hàm ẩn ý nghĩa sâu sắc như một công án của thiền gia :
“Thu ăn măng trúc đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao.”
....
Vào mùa thu, cây tre non sinh trưởng, Nguyễn Bỉnh Khiêm “ăn măng trúc” vừa ngon miệng vừa yên lòng vì thức ăn có nhiều chất xơ này dễ kiếm và có lợi cho sự tiêu hoá của người già. Sang đông măng không mọc nữa thì nhà thơ nhàn “ăn giá” cũng là thứ thực phẩm tươi non, nhiều dưỡng chất và dễ tìm mua như măng trúc trước đây. Thu mát, đông lạnh nên nhà hiền triết quan tâm việc ẩm thực để thân thể có đủ nhiệt lượng. Đến mùa xuân khí trời đã ấm áp, vào mùa hạ thời tiết quá nóng bức, cho nên thú vui của nhà thi sĩ – đạo sĩ chuyển đổi từ ăn ngon sang tắm mát. Mùa xuân, Nguyễn Binh Khiêm cảm thấy hạnh phúc khi được tắm mát trong hồ sen trong xanh và sâu rộng. Sang mùa hạ mà vẫn còn xuống “tắm hồ sen” để thoả sức vẫy vùng thì người ta phải chịu khổ đau vì bị gai của cây sen làm cho xây xát, ngứa ngáy. Cho nên, để làm dịu cái nóng bức của mùa hè, Cụ Trạng Trình thảnh thơi, vui thú với làn nước mát của ao nhà.
..
Nghị luận về hạnh phúc, các thầy giáo, cô giáo thường yêu cầu học sinh định nghĩa hạnh phúc mà không biết rằng định nghĩa không khéo thì người ta có thể bắt đầu mất hạnh phúc. Khi một sinh viên khẳng định hạnh phúc của đời tôi là có được cái bằng Tiến sĩ thì ta biết ngay từ phút ấy người bạn trẻ không có hạnh phúc vì chưa có bằng Tiến sĩ. Miệt mài học tập, viết luận án và tổ chức bảo vệ luận án là những việc làm hao tâm tổn trí mà khi có học vị Tiến sĩ rồi không có nghĩa là hạnh phúc đã tìm thấy ! Cho nên người trí không tự ràng buộc vào một khái niệm về hạnh phúc mà biết tổ chức cuộc sống một cách khôn ngoan, linh hoạt và thích ứng như Nguyễn Bỉnh Khiêm để có hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh. Đó chính là triết lý sống tùy duyên đã được Phật hoàng Trần Nhân Tôn thể hiện trong “Cư trần lạc đạo phú”:
“Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên,
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.”
.....
Cao Bá Quát, một nho thần có tư tưởng tiến bộ và ý thức phản kháng đời Nguyễn, đã vẽ nên bức tranh thảm hại của lớp người áo mũ xênh xang với quyền cao chức trọng ở triều đình:
“Mũ cành chuồn đội trên mái tóc, nghiêng mình đứng chực cửa hầu môn;
Áo giới lân trùm dưới cơ phu, mỏi gối quỳ mòn sân tướng phủ.” 
.....
Nhìn thấy hoạt cảnh nhục nhã của bọn tham quan ô lại chỉ giỏi việc nịnh bợ, lòn cúi để cầu danh lợi, chúng ta hiểu rõ hơn phẩm cách thanh cao, phong thái ung dung, cuộc sống tự do và hạnh phúc của nhà hiền triết Nguyễn Bỉnh Khiêm khi đã biết từ bỏ “chốn lao xao” để trở về “nơi vắng vẻ”. Ở đó, nhà hiền triết khẽ nâng ly rượu nồng giữa đất trời, nhẹ lòng buông bỏ công danh cùng với những ham muốn vật chất tầm thường, sống giao hoà mật thiết với thiên nhiên cao rộng, trở thành một nốt nhạc trong bản nhã ca vĩ đại của vũ trụ :
“Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”
....
Phần đông người đời nay đang uống bia bằng ly cối, uống rượu bằng chén tống, uống liên tục không kể ngày đêm, uống trong phòng khách của gia đình chưa đủ thì uống tiếp trong phòng lạnh của nhà hàng, giữa những tiếng “dô”, “dô” ồn ào hay trong tiếng nhạc đinh tai nhức óc của cái máy phóng thanh đã được sử dụng với công suất tối đa. Trái lại, thưởng thức một trong bốn lạc thú thanh cao của người xưa là cầm, kỳ, thi, tửu, Nguyễn Bỉnh Khiêm uống rượu với cái ly nhỏ bằng hạt mít, “sẽ nhắp” từng chút hương vị cay nồng, dưới bóng mát của cây xanh là cái máy điều hoà tuyệt hảo của thiên nhiên. Tửu đạo ấy giúp khí huyết người già lưu thông, làm cho tâm trí người lớn tuổi nên sảng khoái, minh mẫn để nhận biết tính mong manh, bèo bọt, phù du của vinh hoa phú quý ở đời. Từ đó nhà thi sĩ – đạo sĩ chọn cách sống vị tha vô ngã, chẳng vì công,chẳng vì danh, chỉ vì người khác và cho người khác. Với lý tưởng sống cao đẹp ấy, trí tuệ, tài năng và đức hạnh của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm bao trùm cả thế kỷ XVI, sáng đẹp mãi trong văn học và lịch sử nước nhà.
......
Chịu ảnh hưởng của tư tưởng và học thuật phương Tây, nhiều tác giả Việt Nam cận và hiện đại đã nghĩ rằng người ta chỉ tìm thấy sức sống trong mùa xuân và hạnh phúc khi còn tuổi trẻ. Hậu quả của nhận thức thiếu khôn ngoan này là ngay khi còn có tuổi trẻ và mùa xuân, người ta cũng không được sống hạnh phúc trọn vẹn, vì lo sợ tuổi xuân qua mau và cảnh già nua lụ khụ sẽ đến :
“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.”
 (10)
..
Triết gia phương đông không quan niệm hạnh phúc chỉ có trong mùa xuân và với tuổi trẻ. Sống có đạo đức để lòng thanh thản, sống tuỳ duyên để tâm được an vui, với cuộc đời sáng đẹp như một áng mây trắng trên trời xanh, ở đâu Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng tìm thấy hạnh phúc và với lứa tuổi nào Bạch Vân cư sĩ cũng có mùa xuân:
“Lòng thử hỏi lòng không hổ thẹn,
Đến đâu thì cũng có xuân phong”
“Chín mươi thì kể xuân đà muộn,
Xuân ấy qua thì xuân khác còn.” 


Hà Thúc Hoan.....

.N T (B5, C2)

Saturday, March 3, 2012

Thu Lê: Thu vắng Anh

Thơ Đoàn Thu-Lê (ĐK 67)
.
..
.
...........
THU VẮNG ANH
..
Không có anh trời chiều buồn tẻ
Ráng mây hồng hụt hẩn chơi vơi
Mái tóc dài không người vuốt nhẹ
Vòng tay nào hờ hững buông lơi
Lá vàng rơi đường về quên lối
Hè phố xưa vắng tiếng chân quen
Một mình đi vào trong bóng tối
Nghe thênh thang với nổi buồn tênh
Trời trở lạnh thu về hiu hắt
Nhỏ giọt buồn theo tiếng chuông ngân
Chân trời xa mang màu tím ngắt
Cành hoa buồn gợi nhớ ái ân
Hàng cây gầy buông lời giả biệt
Trăng sao mờ mang kiếp cô liêu
Chuỗi ngày qua một mình đơn chiếc
Mùa thu này vắng bóng người yêu.
..
Thu-Lê
.
THU SẦU
Tiếng hát: Ngọc Hạ..
..

Quang Dũng: nhà thơ tài hoa lãng mạn

Nhà Thơ Quang Dũng, 
Thi sĩ Tài Hoa Lãng Mạn.
....
.
Nhà thơ Quang Dũng thời Tây tiến
(Nguồn hình: Internet)
..
..
TIỂU SỬ NHÀ THƠ QUANG DŨNG (1921-1988)
..
Nhà thơ tiền bối Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm, sinh tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng tỉnh Sơn Tây (nay thuộc ngoại thành Hà Nội). Sau khi học Trường sư phạm tại Hà Nội, ông làm nhạc công gánh hát rong và làm gia sư tại Hà Nội. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp ông chiến đấu trên hai mặt trận: vừa là người cầm bút nhưng cũng vừa là người cầm súng chiến đấu.
Ông đã viết rất nhiều truyện ngắn xuất bản và viết kịch, cũng như đã triển lãm tranh sơn dầu cùng với các họa sĩ nổi danh. Ông sáng tác nhạc, bài Ba Vì của ông đã nổi tiếng ở trong khu kháng chiến.
Ông bị gửi đi chỉnh huấn sau vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, và lui về ẩn thân trong nghèo nàn và bệnh tật. Thơ của ông bị phê bình trên báo chí miền Bắc lúc đó là mang hơi hướng “tiểu tư sản”, thiếu tính chiến đấu, còn ở miền Nam thì được xuất bản và phổ biến rộng rãi.
Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1988 tại Hà Nội.

Những bài thơ nổi tiếng của Ông:
  • Đôi bờ
  • Đôi Mắt người Sơn Tây
  • Quán bên đường
  • Tây Tiến...v..v...
..
KHÔNG ĐỀ
..
Em mãi là hai mươi tuổi,
Ta mãi là mùa xanh xưa,
Những cây ổi thơm ngày ấy,
Và vườn hoa ngâu mưa thu,
Tóc anh đã thành mây trắng,
Mắt em dáng thời gian qua,
                    
Ngày nay,
Chuyện đẹp đi qua,
Còn lại đôi ta,
Thời gian gấp ruổi,
Em mãi là hai mươi tuổi,
Ta mãi là mùa xanh xưa,
Giữ trọn tình người cho đẹp.

Ôi con đường xưa.
Mấy mùa trút lá,
Cánh bàng mồ côi,
Cổng cũ rêu phong,
Ý đợi người…

Ôi con đường xưa,
Men vườn ổi thơm,
Em tuổi hai mươi,
Yêu anh hào hiệp…

Bỏ em anh đi,
Đường hai mươi năm,
Dài bao chia ly…

Có những vợ chồng,
Không là trăm năm,
Mà tình thương yêu,

Sông ơi dài sao,
rộng ơi biển cả ,

Thôi em nước mắt
Đừng rơi lả chả,

Em mãi là hai mươi tuổi,
Ta mãi là mùa xanh xưa,
Giữ trọn tình người cho đẹp… (*)

Quang Dũng, 1970 
.......
(*) Bài thơ này nhà thơ Quang Dũng viết cho người yêu cũ được bạn bè gọi là cô gái vườn ổi sau khi đến thăm lại người tình xưa sau 20 năm xa cách.
..
(st)