Wednesday, May 21, 2014

Quỳnh-Diêu: Nhím


NHÍM
..
TRUYỆN NGẮN của TÔN NỮ QUỲNH DIÊU (ĐK 71)
..
Buổi trưa đầu mùa hạ ở tỉnh lẻ thật yên lặng, lâu lâu mới có một cơn gió nhẹ thoáng qua mơn trớn mấy bụi trúc trước hiên nhà.  Vài con bướm vàng nhỡn nhơ đùa giỡn với dăm ba vồng cải hoa vàng nở rộ, vẫn không xua tan được nỗi mệt mỏi, chán chường của Nhím.
..               
Hai đứa con đang chơi ô làng dưới tàng cây trứng cá lại cải nhau chí chóe với tụi nhỏ trong xóm, Nhím nhủ thầm ước gì mình được trở lại thời vàng son thuở ấy.  Hai đứa nhỏ roi roi nhưng dễ thương, ai cũng khen sao mụ bà khéo nặn, con giống cả cha lẫn mẹ là điều hạnh phúc, tốt lành.  Tuy nhiên, mỗi lúc ôm con vào lòng Nhím lại thấy thấp thoáng đâu đó bóng hình ngày xưa.  Nhím thở dài, mới có mấy năm thôi mà tưởng chừng lâu lắm.
..
*****..
Ngày nào cũng phải vật lộn với mấy bài toán chưa giải được làm Nhím bực cả mình, mà nói cho phải tội có bao giờ Nhím giải xong một bài nào đâu.  Hình như cái đầu của Nhím nó dị ứng với mấy con số hay sao ấy.  Chả vậy mà học bạ lần nào mang về cũng bị cô giáo phê học không đều làm ba mẹ bực mình không ít.  Cái đầu của Nhím là hai thái cực, môn Quốc văn bao giờ Nhím cũng được điểm cao, thuộc hạng giỏi.  Hầu như bài luận văn nào chỉ đọc qua đề bài là Nhím có thể viết một cách dễ dàng, ý tưởng dồi dào, trong sáng.  Mỗi lần phát bài cô giáo đều khen và còn đọc cho cả lớp nghe nữa chứ.  Vậy mà không hiểu sao riêng môn Toán, Nhím dốt ơi là dốt.  Dì Út thường bảo "dốt đặc cán mai" tức dốt tệ.  Anh Hậu còn thêm "con nhỏ nầy không hiểu sao cũng lọt vô được GL, chắc "chó ngáp phải ruồi", làm Nhím giận tím cả mặt.
..
Mà cũng lạ, bầy con của mẹ, bốn trai, năm gái chứ ít sao, ai cũng học giỏi đều, chẳng có ai làm phiền ba mẹ như Nhím.  Thế là mẹ cứ đem chuyện dốt toán của Nhím để hỏi tìm người dạy kèm làm Nhím "nổi tiếng" hồi nào chẳng hay.
...
Có lần bực quá, Nhím cằn nhằn, cũng tại mẹ, ngày xưa mẹ ăn thiếu món gì đó làm... chất xám của con lu mờ.  Mẹ cười bảo, con nhỏ nầy, thôi để mẹ kiếm thầy dạy kèm cho con.  Và thế là không biết bao nhiêu thầy rồi mà Nhím dốt vẫn hoàn dốt.  
..
Bữa nọ anh Hậu - con dì Hai -  nói chuyện với mẹ "dì đừng lo, con có thằng bạn thân học chung từ hồi tiểu học, con nhà tử tế, nó giỏi toán số một, hiện đang học ở Kiến Trúc với con.  Con có nói qua chuyện con Nhím, nó muốn đến coi con Nhím dốt đến cỡ nào, nó sẽ trị cho.  Thằng này cũng là dân đai đen Karaté đó, con Nhím mà lộn xộn không chịu học, bướng bỉnh để nó ký đầu chắc cả tháng vẫn còn sưng. 
..
"Xí, chưa chi đã hù, hừ để coi", Nhím lầu bầu.
...
Chưa gặp mà Nhím đã thấy ghét ông bạn của anh Hậu quá chừng.  Thế là một buổi trưa, đang ngồi đong đưa trên võng, gió hiu hiu, cắn một miếng ổi xá lị dòn tan, chấm thêm tí muối ớt ngọt lịm, thật là ngon đáo để.  Bỗng có tiếng gõ cửa, con Bồ câu chạy ra, rồi lại phóng vào vừa thở vừa nói "Nhím ơi, Nhím ơi, có ai hỏi Nhím", Nhím đi lên nhà trên, tay còn cầm miếng ổi, thì ra người khách đó chẳng ai xa lạ, chính là người Nhím không bao giờ muốn gặp -  bạn anh Hậu -  sẽ là thầy của Nhím. 
...
Đứng trước mặt Nhím là người con trai dong dỏng cao, dáng vững chải, mặt mũi sáng sủa, đặc biệt là đôi mắt sâu thăm thẳm trông rất quyến rũ.  Nhím đang lúng túng vì miếng ổi còn trong miệng, thì hắn đã tự động kéo ghế ngồi xuống, còn mời Nhím ngồi và lên giọng "anh tên là Chuyên, bạn của Hậu, Hậu đã cho anh biết nhiều về Nhím, và nhờ anh đến giúp Nhím về môn toán.  Anh thì rất cù lần, bạn anh là sách vở, vì vậy mà anh muốn Nhím phải coi việc học là trên hết, chú tâm vào bài vở, vì chương trình toán năm Đệ tứ không phải dễ.  Ngày mai sẽ bắt đầu, bây giờ anh về.”  Nhím lẩm bẩm, hà, cù lần, cái tên nghe ngộ ngộ.  Và thế là tên Cù lần có từ đó.
..
Kể ra thì anh chàng Cù lần cũng chịu khó và kiên nhẫn với Nhím thật.  Suốt mùa hè năm đó Nhím phải ở nhà mỗi buổi sáng để học toán với Cù lần.  Sau khi coi tập vở và bài làm của Nhím, Cù lần bảo Nhím bị mất căn bản khá nhiều.  Vậy là mỗi ngày Nhím phải bỏ ra một giờ để ôn lại từ đầu mấy điểm chính.  Trong lúc tụi bạn đang nhỡn nhơ vui chơi thì Nhím lại phải bó mình với bộ mặt khó đăm đăm của Cù lần.  Có bữa nọ, cũng vì cái tính bướng bỉnh bất tử của Nhím làm Cù lần nổi giận, ký đầu Nhím.  Thật ra chẳng có gì đau, Nhím chỉ muốn hù Cù lần cho bỏ ghét "hu hu, đau quá, chết rồi, chắc bể đầu rồi, ui da, sưng một cục to như cái hột gà rồi."  Vậy mà Cù lần còn bồi thêm "chưa đâu, ngày mai nó sẽ lớn bằng trái bưởi bây giờ."
...
Tức thật, tối lại Nhím lục tìm cuốn sách Vạn Vật cũ ngồi vẽ lại hình một con Nhím xù lông nhọn hoắc, hai con mắt thì quắc lại, cái mỏ chu ra.  Nhím còn ghi thêm "Cù lần và Nhím là hai đường thẳng song song không bao giờ gặp nhau tại một điểm.  Sợ chưa."  rồi lén bỏ vào trong tập sách của Cù lần.  Vậy mà Cù lần làm như chẳng có gì bận tâm, còn trêu Nhím bằng cách lồng cái hình ở phía ngoài bìa plastic của cuốn tập, rồi còn nhìn Nhím cười cười thật khó hiểu, làm Nhím tức chết được.  Chưa lúc nào Nhím thù ghét Cù lần bằng lúc nầy, ước chi có phép thần thông Nhím sẽ hô biến một cái cho đỡ tức.
...
Chiều thứ bảy, đang ngồi nghĩ cách nào để trả thù Cù lần thì Bồ câu mang vào một bịch me cam thảo bự, nó bảo anh Chuyên gởi cho Nhím.  Hừ, có vậy chứ, Nhím chia cho Nai, Sóc, Thỏ, Bồ câu, ai cũng khen Cù lần tốt bụng, đâu ngờ đây là của hối lộ cho Nhím.
...
Cù lần có cách dạy coi vậy mà hay, chỉ trong vòng ba tháng hè ôn tập mà Nhím tiến bộ thấy rõ, Nhím không còn tự ti vì dốt toán nữa.  Vào niên học mới, có hôm toán của Nhím còn được điểm cao nữa kìa, thật không ngờ, ba mẹ rất vui và "nể" Cù lần quá đổi.  Thấy vậy con Sơn Hà bạn Nhím cũng xin thọ giáo với Cù lần, nó rất chăm ngoan chứ không bướng như Nhím. 
..
Có hôm nó bảo: 
-  Ê mầy, tao thấy anh Chuyên không những dạy hay mà trông ảnh còn "hay hay" nữa. 
Nhím hỏi nó:
-  Hay hay là sao?
Nó ởm ờ: 
-  Mầy thấy anh Chuyên có đôi mắt sâu đẹp chết người chưa.
-  Mầy là con nít ranh, mới bây lớn đã biết khen mắt con trai đẹp. 
Nó cười: 
- Thì tụi mình cũng trăng tròn rồi chứ bộ.
  ...         
Thời gian vẫn trôi, Nhím sống êm đềm bên cạnh những người thân và bạn bè, mặc dù cuộc chiến ngày càng gia tăng nhưng Saigon vẫn tấp nập, tràn đầy sức sống.  Thế rồi, sau buổi học chiều, Cù lần báo cho Nhím và Sơn Hà biết là anh đã xin ghi danh tình nguyện vào trường Võ Bị Đà Lạt, tháng tới Cù lần sẽ lên đường.  Con Sơn Hà nghe xong khóc hụ hụ, anh đi rồi ai dẫn tụi em đi ăn kem.  Con nầy sao mà vô duyên quá chừng.  Nhím thấy hụt hẫng thật nhiều, không ngờ có ngày Nhím lại phải xa Cù lần
...
Hôm anh Hậu đến nhà, mẹ bảo "dì thấy thằng Chuyên học giỏi vậy mà sao nó lại bỏ đi lính chi cho khổ."  Anh Hậu nói "nó thích ngôi trường đó từ lâu rồi dì à.  Lâu nay ông bà cụ không bằng lòng nên nó phải nán lại, rốt cuộc rồi cũng phải chìu theo ý nó."  Nhím thì nghĩ Cù lần sao ...  khờ quá, khi không lại mang thân vào chốn lửa đạn làm gì cho khổ, có cho kẹo Nhím cũng không dám.
...
Để tiễn Cù lần lên đường, mẹ nấu một nồi phở bò, có đủ tái nạm gầu gân sách, còn có hành chần, giá, và nước béo nữa, và đủ thức ăn ngon.  Tất cả bạn anh Hậu đều có mặt đông đủ.  Mọi hôm Nhím vẫn là đứa háu ăn nhất nhà, vậy mà không hiểu sao hôm nay Nhím cứ thấy nghèn nghẹn ở cổ, nuốt chẳng trôi.  Lúc tiễn Cù lần ra cửa, anh vỗ vai Nhím và bảo "ở nhà chóng ngoan, ráng học, anh sẽ viết thư cho Nhím, nếu bài học có chỗ nào không hiểu cứ viết cho anh."  Nhím chỉ dạ nhỏ và chúc anh đi bình an.
...
Từ ngày Cù lần đi xa, Nhím thấy như thiếu cái gì đó.  Nhiều hôm tan học, Nhím ghé qua Chùa Xá Lợi lễ Phật và cầu nguyện đức Quan Âm Bồ Tát gia hộ cho Cù lần.  Nhím bảo Sơn Hà "Cù lần đi rồi tao thấy như ăn me cam thảo thiếu muối ớt."  Nó mở to mắt mầy ví kiểu gì kỳ vậy, mà cũng cho đáng đời mầy, hồi đó mầy bắt nạt con người ta quá đổi.
...
*****..
Nhím ơi, có thư nè, tiếng Nai gọi Nhím.  Lần đầu tiên nhận được thư Cù lần làm Nhím mừng hết lớn.  Cù lần viết một bức thư dài, mỗi ngày một đoạn, lại còn kèm thêm mấy cánh hoa Pensée ép thật đẹp.  Thư đi từ lại cũng chỉ xoay quanh việc học của Nhím và những ngày ở quân trường của anh, vậy mà Nhím đọc hoài vẫn không thấy chán.  Nhím cho Sơn Hà coi hình Cù lần trong bộ quân phục đại lễ trắng tinh, nó cứ tấm tắc khen làm Nhím thấy vui vui.
..
Hôm Nhím thi đậu vào Đại học Sư Phạm, ba mẹ cho mấy anh chị em lên Đà lạt chơi và ghé nhà cậu mợ V.  Ngồi xe Saigon - Đalat lúc qua khỏi đèo Ngoạn Mục là khí hậu đã mát hẳn, thật dễ chịu.  Dịp may đúng lúc Cù lần được xuống phố, Cù lần cứ vuốt vuốt cái đầu húi cua làm Nhím thấy buồn cười. 
....
-  Nhím biết không, mấy đêm nay anh không ngủ được, cứ trông cho mau đến ngày gặp lại Nhím.
-  Thật không?
-  Thật
-  Chứ không phải vì nhớ người đẹp Đalat nào đó nên không ngủ được hả?
-  Bậy
-  Để hôm nào Nhím lên bất ngờ, ai bậy thì biết.
-  Được rồi, Nhím có thể lên bất cứ lúc nào.  Cù lần vẫn là Cù lần.  Cù lần cười cười.
...
Vòng quanh khu chợ Hòa Bình, Nhím vẫn thích nhất là khu bán hoa tươi, phải nói Đalat là nơi quy tụ không biết bao nhiêu loại hoa đẹp, đủ sắc màu tỏa hương thơm ngát.
Nhím muốn vào phở Bằng, hôm đó mát trời, lại đang đói bụng, chưa bao giờ Nhím ăn một tô phở ngon đến thế, Cù lần cứ nhìn Nhím ăn, cười bảo "nhìn Nhím ăn anh đủ thấy ngon."  Kệ, đối với Cù lần, Nhím chẳng cần phải giữ ý tứ gì cho mệt.  Thấy còn sớm Cù lần rủ Nhím lên quán cà - phê Tùng nổi tiếng của Đalat, thưởng thức ly cà-phê thơm ngon và nghe những "Bài không tên" của Vũ Thành An.  Nhím không ghiền cà-phê nhưng nghe tụi bạn bảo đã lên Đalat mà không ghé cà-phê Tùng là một điều thiếu sót.
..
Cù lần muốn đưa Nhím đi thêm vài nơi nữa nhưng đã đến giờ phải trở lại trường, ngày vui qua mau, Nhím cũng phải sửa soạn về lại Saigon ngày hôm sau.
..
Cù lần mua cho Nhím nào là ô mai, mận, khoai lang khô, dâu tây đủ thứ, chuyến nầy về mặc sức con Sơn Hà "ganh tị."  Lúc đưa Nhím về, có mấy người bạn cùng khóa với Cù lần hỏi "em gái ông hả, giới thiệu cho tui đi."  Không biết Cù lần nói gì đó mà anh chàng kia nhìn Nhím cười cười.  Thôi, giả từ Đalat, giả từ đồi Cù thơ mộng, giả từ chàng Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị dấu yêu.
......
****
Thế rồi một ngày, Cù lần cũng phải "hạ sơn" sau bao năm tu luyện.  Mẹ hỏi anh Hậu "sao thằng Chuyên lại chọn binh chủng Biệt Động Quân vậy hả con?  Dì nghe nói đi mấy binh chủng đó dễ chết lắm, dì  lo cho nó quá, nghe nói ba nó quen biết nhiều lắm mà."  Anh Hậu bảo "dì cũng biết tính thằng Chuyên mà, có trời mà cản nỗi nó.  Con nghĩ nó hiền lành và tốt bụng chắc không đến nỗi nào." 
..
Thế là Cù lần bây giờ đã trở thành ông Cọp nâu với 13 cái răng nhe ra trông ... thấy sợ.  "Cọp hiền lắm chứ không dữ như con nhím nầy đâu."  Cù lần lấy trong ví ra cái hình vẽ lúc trước của Nhím, đưa Nhím coi. 
-  Ủa, anh còn giữ nó hả?
-  Ừ, nó theo anh đã mấy năm nay.
Nhím mắc cỡ đưa tay che mặt nhưng cũng có chút hãnh diện trong lòng.
..
Lần đầu tiên thấy anh ấy trong bộ quân phục rằn ri, con Bồ câu liến thoắng "anh Chuyên trông oai hùng và đẹp trai còn hơn hồi ở nhà nhiều."  Thỏ chêm vào "Ừa, mấy đứa bạn em khen anh Chuyên có cặp mắt đẹp mê hồn luôn" làm Cù lần đỏ cả mặt.
..
Kể từ ngày đó anh đi khắp các miền đất nước, có những địa danh xa lạ Nhím chưa nghe qua bao giờ, nào là Dakto, Pleime, Plei Rit ...những nơi nghe tên đã thấy khói lửa ngập trời.
..
*****
Cả mấy tháng nay chẳng được tin gì của Cù lần, nghe tin chiến sự thì toàn tin xấu hơn tin tốt làm Nhím thấy đau lòng.
Một trưa thư bảy trời nắng, cái nóng oi bức khó chịu, Nhím đang lơ mơ ngủ, mới chợp mắt thì Sóc kêu "Nhím, dậy có anh Chuyên đến kìa." 
Nhím mừng hỏi: 
-  Ủa, anh Chuyên mới về hả?
-  Ừ, anh chỉ ghé nhà nhờ Nhím chút việc xong là anh phải đi ngay, Nhím giúp anh nghen.
-  Mà chuyện gì?
-  Nhím rãnh không, đi với anh.
-  Đi đâu?
-  Thì cứ sửa soạn đi rồi anh sẽ cho Nhím biết sau. 
Trên xe Cù lần ngập ngừng:
-  Nè, Nhím, anh nhờ Nhím đi chọn mua giùm anh một xấp hàng tơ cho bạn anh được không?
-  Bạn anh, mà bạn trai hay bạn gái?
-  Dĩ nhiên là bạn gái.
-  Cao, thấp, ốm, mập, trắng, ngâm, tự nhiên nói khơi khơi vậy ai chọn cho được.  Nhím xẳng giọng.
-  Cô nầy giống hệt như Nhím, cũng trắng, dáng thanh thanh dễ thương như Nhím vậy. 
-  Trời đất sao giống kỳ vậy.
Ngoài trời đã nóng mà trong lòng Nhím còn nóng hơn. 
-  Giữa trưa đứng bóng chở Nhím đi, xong việc phải trả công Nhím à nghen.
-  Được rồi, Nhím cứ giúp anh, anh sẽ hậu tạ.
..
Hừ, Nhím nghĩ, tên nầy kín đáo thật, mà bạn gái ổng là ai, người Nam, Trung, Bắc, hay Huế, Saigon, Hà nội hay "em Pleiku má đỏ môi hồng", còn con gái Đalat nữa chi.  Nhím mù tịt, cả trăm câu hỏi hiện ra trong đầu.  Mấy con ranh con mật thám bạn Nhím mọi ngày tụi nó lanh lắm mà, sao chuyện quan trọng như vậy lại chẳng có đứa nào hay.
..
Sau khi cố tình lôi Cù lần rảo khắp mấy phố chính của Saigon, từ Nguyễn Huệ, về Tự Do, qua Lê Lợi, ghé Tạ Thu Thâu cho bỏ ghét, Nhím và Cù lần vào chợ Bến Thành.  Cả một rừng vải đủ màu đến choáng ngợp.  Rốt cuộc rồi Nhím cũng chọn được một xấp lụa Hồng Hoa màu vàng Hoàng hậu.  Ướm thử lên người Nhím cô hàng vải khen nức nở, da em trắng mặc màu nầy đẹp hết ý.  Nhím cũng chẳng buồn cải chính làm gì.  Ra khỏi chợ, Cù lần rủ Nhím đi ăn, Nhím thích ăn gì anh chở đi.  Tự nhiên Nhím thấy chẳng còn hứng thú gì để đi đâu.  Nhím đòi Cù lần chở về nhà, Cù lần bảo chiều nay anh phải về đơn vị gấp, lần sau về phép anh sẽ ghé thăm Nhím. "  Hổng dám, lần sau có ghé nhớ chở người đẹp về giới thiệu luôn", Nhím nói mát.  Cù lần chỉ cười cười rồi lái xe đi. 
-  Xí, cười cười thấy ghét. 
Nhím ngoe nguẩy  đi vào nhà với trăm nỗi muộn phiền.
Nguyên cả buổi chiều Nhím chẳng làm việc gì cho ra hồn, xách xe đến nhà con Sơn Hà, nó hỏi:
-  Mầy đi đâu giờ nầy mà cái mặt bí xị vậy?
Nhìn thấy nó, tự nhiên mấy tuyến nước mắt của Nhím bật hết ra.
-  Hu hu Cù lần...
Sơn Hà giọng hoảng hốt, nó ôm chặt lấy Nhím:
-  Hả, Cù lần, anh Chuyên hả, sao, bị gì?
-  Hic, hic, Cù lần có... bạn gái.
-  Con nầy, mầy làm tao hết hồn.  Mà sao mầy biết?
-  Thì ổng nói đó, còn nhờ tao đi mua áo giùm cho người ta nữa.
-  Hay là mày nghe lộn, biết đâu đó là em gái ảnh thì sao.
-  Không có đâu, nhà đó toàn là con trai không hà.
Con Sơn Hà vẫn cứ khăng khăng:
-  Tao không nghĩ Cù lần như vậy đâu.  Để tao hỏi anh Hậu coi, anh Hậu thân với Cù lần lắm mà.  Thôi, đừng khóc, bây giờ tao với mầy đi ăn bò bía, rồi uống nước mía Viễn Đông nghen.  Bò bía là món ruột của Nhím, vậy mà sao cuốn bò bía lần nầy nó có vị đắng ngắt.
...
***** 
Mới nhấc chiếc xe vào nhà sau, Nhím nghe tiếng người đàn ông hỏi gì đó và con Bồ câu nhanh nhẩu, dạ thưa anh nhà nầy có đến năm anh:  Thúy Anh, Hương Anh, Hoài Anh, Quỳnh Anh và Liên Anh, nó nói một hơi, anh muốn tìm anh nào?
-  Dạ, cô cho tui gặp cô Hoài Anh. 
-  Nhím ơi có ai muốn gặp.
 Một người lính mặc bồ đồ trận như Cù lần, tay cầm gói quà, nói giọng nhỏ nhẹ.
-  Xin lỗi, cô là Hoài Anh.
-  Dạ
-  À, Trung úy Chuyên nhờ tôi mang gói quà nầy cho cô.  Thôi xin phép cô tôi phải đi gấp.  Nhím chưa kịp cám ơn thì anh ta đã phóng lên chiếc xe jeep chạy nhanh.  Quá đổi ngạc nhiên, Nhím mở hộp quà, thì ra xấp vải hồi trưa nằm gọn gàng trong chiếc hộp giấy.  Một lá thư rơi ra.
..
Nhím thương,
"Nhím cho anh cái tên Cù lần thật đúng, anh thấy anh cũng cù lần thật.  Đã mấy năm nay anh muốn nói với Nhím, nhưng rồi anh cứ lần lừa mãi cho đến bây giờ.  Ngay từ lần đầu gặp Nhím, anh đã thấy xao xuyến trong lòng, Nhím dễ thương và thanh cao như nụ hoa hàm tiếu, Nhím quá trong trắng và thánh thiện vì vậy mà anh càng phải giữ mình và giữ ý tứ nhiều hơn.  Điều anh muốn nói là anh yêu Nhím thật nhiều, nếu Nhím cũng nghĩ đến anh và không chê đời lính gian khổ thì anh sẽ thu xếp xin phép về Saigon và thưa Ba Má anh đến nhà xin Ba Mẹ em được làm lễ hỏi, xong chờ hai năm nữa đến lúc Nhím ra trường tụi mình sẽ làm đám cưới.  Nhím nghĩ sao?  Nhớ viết tin cho anh biết.  Hồi trưa nhìn điệu bộ của Nhím làm anh tức cười và anh càng thương Nhím nhiều hơn.  Gởi tặng em món quà nhỏ, chúc em vui.  Thôi, anh phải đi đây.  Thương em thật nhiều."
Anh Chuyên  
..
Đọc xong bức thư, cầm xấp hàng trên tay, một nỗi hối hận dâng tràn.  Đêm đó Nhím chỉ viết cho Cù lần một dòng duy nhất.  "Anh Chuyên thương, Nhím cũng yêu anh, yêu anh thật nhiều và em sẽ chờ anh.", để ngày mai ra Bưu điện sớm.
..
*****.
Không ngờ cuộc đời Nhím lại là cả một đại dương đầy sóng gió.  Tháng tư năm ấy, bầu trời xám ngắt, mây đen vần vũ, một trận cuồng phong thổi qua làm tan hết mọi ước mơ của Nhím.  Hơn hai năm trời trôi qua, Nhím vẫn không nhận được tin gì của anh Chuyên.  Anh Hậu đã tìm đủ mọi cách, liên lạc với bạn bè quen thân nhưng vẫn bặt vô âm tín.  Nghe đâu Tiểu đoàn anh đụng độ nhiều trận khốc liệt lắm, Nhím không dám nghĩ thêm nữa.  Gia đình anh Chuyên thì cũng đã dọn về quê nội ở Cần Thơ hồi năm ngoái.  Có lẽ dòng chữ Nhím viết năm xưa "Cù lần và Nhím là hai đường thẳng song song không bao giờ gặp nhau tại một điểm" nay đã ứng vào số phận của Nhím hay sao.
..
Chỉ còn một tuần nữa là Nhím phải về quê chồng, - gia đình chồng đã cứu cho cả nhà Nhím thoát khỏi trận cuồng phong -  coi như để đền đáp chút ân tình.  Nhím muốn khóc lớn, muốn đập phá cái gì đó cho vơi đi những uẩn ức trong lòng, nhưng giòng nước mắt đã cạn, nhìn chung quanh còn có nhiều người khổ hơn.
..
Đọc lại một lần trước khi đốt hết những lá thư mà Nhím đã cất công xếp thứ tự theo ngày tháng chất đầy cả hộp bánh LU, có cái thì nhem ra vì nước mưa, có cái còn cả mùi thuốc súng.  Những lá thư từ từ tan theo ngọn lửa hồng, thành một đống tro tàn âm ỉ như cõi lòng của Nhím.  Mấy tấm hình đại lễ quân phục mùa Đông và mùa Hè cùng chiếc nhẫn bạc mãn khóa của anh Chuyên, Nhím sẽ đưa anh Hậu giữ, biết đâu sau này anh Hậu sẽ gặp và giao lại cho Cù lần.  Thôi thế là hết.
..
"...Đừng bỏ em một mình
Đừng bắt em làm thinh
Cho em gào nức nở
Hòa đại dương mông mênh
..
Đừng bỏ em một mình
Biển đêm vời vợi quá
Bước chân đời nghiêng ngã
Vũ trụ vàng thênh thênh ..."   *
...
Chưa bao giờ Nhím thấy cô đơn như lúc này, nỗi cô đơn bủa vây làm đôi lúc Nhím ngạt thở.  Ba thì đang ở trại tù Yên Báy  -  Việt Bắc, không biết ngày về.  May mà mẹ nhanh tay nên bốn thằng con trai đã đi thoát được với gia đình cậu T.  Ở nhà chỉ còn mấy mẹ con, ban đêm hễ nghe tiếng gỏ cửa ở nhà hàng xóm là mấy chị em Nhím co rúm người ôm chặt nhau, không dám ngủ.
..
*****
-  Nè, cô Hai, Chị Bảy hàng xóm lên tiếng làm Nhím chợt tỉnh.  Tui có mớ rau lang mới hái sau vườn, tui mang biếu cô một ít, để chiều cô nấu canh với chút tôm khô cho cậu Hai và sắp nhỏ ăn lấy thảo.  Thời buổi gì mà dân miền Nam lại phải chạy gạo hằng ngày, khổ ơi là khổ.  À, mà này cô hai, hổm rày sao tui thấy cô hay buồn dữ.  Có gì cần thì cứ kêu tui, tui giúp cô, chỗ bà con lối xóm giúp nhau lúc nầy mới quý.  Thôi, tui dzìa, thằng Bờm nó trở mình thức giấc rồi.
-  Cám ơn chị Bảy nghen.
-  Ơn với nghĩa gì cô Hai.
Người dân quê miền Nam dễ thương như vậy đó, họ sống chân chất, thật tình...
"Ầu ơ, ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi.
Khó đi mẹ giắt con đi,
Con đi trường học mẹ đi trường đời."
...
Cả một trường đời khắc nghiệt và cam go đang mở ra trước mặt Nhím.  Giữa trưa tiếng võng đưa kẽo kẹt và tiếng ầu ơ của chị Bảy nghe sao mà buồn não nuột, làm Nhím nhớ Saigon quay quắt, còn đâu "Nắng Saigon anh đi mà chợt mát, Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông." ** Chiếc áo lụa vàng chưa một lần mặc vẫn nằm nguyên trong ngăn kéo.
..
Có tiếng thằng Bim la to, hết làng tàn dân, mấy đứa nhỏ xóa bàn ô làng chạy về nhà.  Con Vô Ưu sà đến bên mẹ chớp chớp đôi mắt to sâu :  "Mẹ ơi mẹ, chiều mẹ nhớ nói Ba chở tụi con đi chơi nghe mẹ."  Nhìn con Nhím lại thấy đôi mắt ấy, phải rồi cũng sâu thăm thẳm, làm chết lòng người, Nhím hôn lên mắt con mà tìm lại hương vị ngày xưa.
..
Tôn nữ Quỳnh Diêu (ĐK 71)
(Đầu mùa Hạ 2013)
..
* Thơ Minh Đức Hoài Trinh
** Thơ Nguyên Sa........

Tuesday, May 20, 2014

Mời em về

(Ảnh: Internet)
..
TA BÁN CÀ REM HỀ
..
TÁC GIẢ: TRẦN HOÀI THƯ

Ta đã về ôm những nhánh tang thương
Cúi đầu bước đi giữa lòng phố cũ
Con phố của ta, ruột rà trăm ngõ
Sao bây giờ mỗi khúc mỗi đau

..
Ta đã trở về, bốn năm phù du
Hồn hóa đá, người thành dã thú
Ta dỗ dành ta tai trời ách nước
Thôi đã hết rồi, món nợ tiền khiên

...
Thì tại sao xin một chỗ dung thân
Cố xứ ơi, cây đào trước ngõ
Ngôi nhà ta, trời ơi bỗng lạ
Con đường xưa, thay đổi não nùng
Ngày xưa Từ Thức trở về, hương bưởi bâng khuâng
Đất trời quê hương dễ thương thế đó
Hôm nay ta trở về, đóng vai ông lão
Đi giữa lòng âm phủ trần gian
Ông lão buồn trong tuổi thanh niên
Ngày tháng lửa binh, già hơn quả đất
Sau cuộc chiến tranh làm tên sống sót
Sau cuộc tội tù đi bán cà rem
Ta bán cà rem hề, ta bán cà rem!
Lắc chiếc chuông đồng, khua vang làng xã
Ôi những hồi chuông lâu rồi đã ngủ
Bỗng hôm nay, choàng dậy, ngỡ ngàng
Trên đầu ta, mây trắng thênh thang
Dưới chân ta, vòng xe nhật nguyệt
Chuông đồng leng keng, thay người đào huyệt
Gọi những ma hồn trong buổi đảo điên
Ta đạp qua cầu, qua bến, qua sông
Qua những xóm làng, công trường mồ mả
Chiếc áo trận xanh, sạm mùi khói lửa
Chiếc mũ rơm đan, vương miện tội tù
Ta qua những miền thiên cổ âm u
Ta đập vào thùng, nghêu ngao ca hát
Ta bán cà rem hề, kem đường kem chảy
Thêm kem oan cừu chất ngất miền Nam
Những con đường Nam Bắc Tây Đông
Những trạm mọc lên chó vàng chó sói
Hỡi sợi dây sên, mi là bạn khó
Kết cùng ta những nỗi lênh đênh
Ta bán cà rem hề, thì bán cà rem
Bà con ơi, đừng nhìn ta mà khóc
Ta đang đứng trong chuồng thú vật
Ít ra ta vẫn là một con người
Em bé quê ơi, nghèo lắm, phải không
Lại đây anh tặng em một cây kem chuối
Có phải em là con một người lính ngụy
Nên cuộc đời toàn là những cơn mơ ?
Ôi những tiếng reo giòn, ông già cà rem
Chưa đầy bốn mươi, ta già thế đó
Ta không buồn đâu, tóc ta bạc trắng
Như một ông già chuyện cổ phương Tây
Ông già Noel vào mùa Giáng Sinh
Lắc chiếc chuông đồng phát quà phát bánh
Ta cũng như ông đầu làng cuối xóm
Lắc chiếc chuông đồng, phát cả trái tim
..
Tác giả: TRẦN HOÀI THƯ
.
(Nguồn: www.tranhoaithu.wordpress.com)
...

Sunday, May 18, 2014

VIẾT ĐỜI MÌNH

.
 (hình: Internet) .
VIẾT ÐỜI MÌNH
...
Giả sử có người tặng bạn một cây bút _ một cây bút màu còn phong kín.
...
Bạn không thể thấy được có bao nhiêu mực trong đó. Nó có thể hết mực sau vài dòng viết thử đầu tiên nhưng cũng có thể còn thật nhiều mực đủ để viết nên một (hoặc vài) kiệt tác để lại dấu ấn cho đời mãi mãi. Bạn không hề biết điều đó trước khi đặt bút.
Với luật chơi như vậy. Bạn phải nắm lấy cơ hội!
..
Thực sự, bạn có thể không cần phải thực hiện điều gì theo luật chơi này cả. Thay vì nắm chiếc bút trong tay, bạn có thể đặt nó vào giá hoặc trong ngăn kéo và rồi nó cũng sẽ khô mực mà chưa hề được sử dụng.
...
Nhưng nếu bạn quyết định sử dụng nó, bạn sẽ làm gì với nó. Bạn sẽ chơi trò chơi này như thế nào?
..
Bạn sẽ trù tính và lên kế hoạch trước khi viết ra? Những kế hoạch này có mênh mông quá đến nỗi bạn không thể nào đặt bút chăng?
..
Hay là bạn sẽ viết ngay, để rồi vật lộn với những dòng chữ tuôn tràn cuồn cuộn muôn hướng cuốn hút bạn đi theo?
..
Hoặc giả bạn sẽ viết một cách cẩn trọng, như thể cây bút có thể hết mực ngay, hay bạn sẽ giả vờ tin rằng (hoặc làm ra vẻ tin rằng) cây bút đó sẽ mãi mãi còn mực?
...
Và bạn sẽ viết về Tình yêu hay lòng Thù hận? Hạnh phúc hay Khổ đau? Cuộc sống hay Chết chóc? Viết tất cả mọi điều hay chỉ viết vớ vẩn?
...
Bạn sẽ viết để làm vui cho mình hay làm đẹp lòng người khác? Hay làm vui cho chính mình bằng cách viết cho người khác?
...
Bạn sẽ viết những dòng run rẩy yếu ớt hay đậm nét rực rỡ? Viết giản dị hay hoa mỹ?
Bạn vẫn cứ viết chứ? Một khi bạn có chiếc bút trong tay dù không luật lệ nào bắt bạn phải viết?
...
Bạn sẽ tóm tắt? Sẽ phác thảo? Sẽ viết nguệch ngoạc? Hay viết say sưa?
Bạn sẽ viết ngay ngắn hay viết không theo hàng lối nào cả?
Có thật nhiều điều để cân nhắc phải không?
...
Bây giờ,
Giả sử có người tặng bạn một cuộc sống...
..
Nhị Tường dịch..
..
(sưu tầm)

Wednesday, May 14, 2014

Khoảnh khắc bên ngưỡng lớp

(post lại 8/19/12)
...
Xin giới thiệu một bài viết của bạn Quế Hương (ĐK69) để tưởng nhớ Thầy PHẠM KIÊM ÂU,  cố giáo sư Pháp Văn của trường Nữ Trung Học Đồng-Khánh, Huế.
..
.
.............
...
KHOẢNH KHẮC BÊN NGƯỠNG LỚP
..
Năm tôi học với Thầy Phạm kiêm Âu ở trường Đồng Khánh (Huế) vào niên khoá 1968-1969, Thầy đã khoảng 50, nổi tiếng đệ nhất khó!..
.....
Thời ấy học đệ nhất Ban C(1) Trường Đồng Khánh oai lắm cơ! Trường chỉ có hai lớp Nhất C. C1 Pháp văn, C2 Anh văn. Bảng tên trên ngực áo được viền khung bằng chỉ màu tím, màu quy định cho lớp đàn chị cuối cấp. Tên được viết theo kiểu thư pháp Ban C, fantaisie  hết cỡ. Cặp lấp ló một quyển của Camus, Krisnamurti, Phạm Công Thiện, Françoise Sagan… là hàng phượng sân trường đủ nể rồi! Dân C kỵ nhái mẫu và tụng niệm. Sáng tạo đủ mọi lĩnh vực - từ chữ viết, cách trình bày bài, kiểu mơ mộng… Bài chỉ liếc qua rồi tự diễn đạt. Đứa nào đọc ro ro không sai một chữ được coi như dân tụng, nên qua Ban A. Mỗi tuần lại được nạp vào đầu đến tám giờ Triết với cô giáo vừa đẹp, vừa chịu chơi có thể vượt rào dạy bài Đam Mê hay Mơ Mộng trên bãi cỏ sân trường. Do dung nạp nhiều thứ, tâm hồn đứa nào cũng chếnh choáng, lơ lửng, nửa cõi trên, nửa cõi dưới!..
...
Thế rồi Thầy bước vào lớp, phụ trách môn Pháp văn, sinh ngữ chính của Nhất C1. Cặp to đùng như nhà ngoại giao. Ánh mắt sắc lạnh. Nụ cười rất hóm. Mỗi tuần chúng tôi gặp Thầy sáu giờ. Đấy là sáu giờ mà các philôdốt (2),  văng sĩ, loạn sĩ… của lớp phải trở về đúng vị trí của mình - học sinh lớp đệ nhất Ban C, sắp đối đầu với kỳ thi Tú tài 2 Văn chương nghiệt ngã. Đứa nào cũng có một quyển luận Pháp văn Thầy quay ronéo khổ lớn, dày cộm. Bước vào lớp, cặp chưa đặt xuống bàn, Thầy đã ra lệnh: Écrivez! Thế là cắm đầu cắm cổ trả bài luận văn đã học thuộc lòng trên giấy. Mười lăm phút, chép không kịp thở, do đó phải học nhừ như cháo. C1 trở thành dân tụng giỏi hồi nào không hay!
...
Mọi thứ đều có quy định, cứ thế mà làm. Giấy làm bài soi lên lỗ thủng to hơn cây kim bị trừ 2 điểm. Lề không đúng quy định, trừ. Không lùi đúng ô, trừ. Tên không đóng khung, trình bày bài làm không đúng cách, trừ… Theo răm rắp như luật nhà binh, nếu không sẽ bị trừ điểm tối tăm mặt mũi!
.....
Ngồi cũng như đóng đinh vào chỗ. Thầy đưa cho lớp trưởng một mảnh giấy manh trên vạch một đường ngăn thành hai dãy. Thầy ở bên phải. Dưới Thầy 4 bàn, 17 chỗ. Bên trái 5 bàn, 18 chỗ. Mỗi đứa tự dán vào chỗ của mình một tấm ảnh nhỏ, ghi tên, ký hẳn hoi. Dưới hai dãy chân dung là tên trường, lớp, niên khoá học. Mảnh giấy ấy được chụp, sang thành 36 tấm ảnh, mỗi đứa một tấm, còn Thầy giữ một. Bao nhiêu lớp dạy bấy nhiêu tấm ảnh như thế. Khuôn mặt trò thay dổi còn Thầy thì không, vẫn cái ảnh chụp vào tuổi băm, áo vét thắt cà vạt, kính dày cộm nhìn xuống lớp.
..
Tấm ảnh ấy vẫn còn trong album tôi. Thầy vẫn mãi ở tuổi băm. Chúng tôi mãi ở tuổi 18. Năm tháng qua đi, bụi thanh xuân gió cuốn nhưng Thầy đã kịp giữ cho chúng tôi một mảnh thời gian đẹp nhất.
..
Thầy tôi kỵ nhất là chuyện đi trễ. Đã đi học là phải đúng giờ. Mùa đông Huế mưa dầm dề, cầu Trường Tiền dài lê thê, gió quất, mưa tạt, đạp xe ngược gió liêu xiêu muốn bay xuống sông Hương. Tôi phải đi sớm thêm 10 phút để khỏi trễ giờ. Thế mà có lần vừa đi được một quãng, chiếc xe đạp giở chứng trật sên. Hì hục đến đen thui tay, vẫn không được. Hoảng quá, tôi gởi đại một nhà gần đó đón xe buýt lên chợ Đông Ba. Đến chợ Đông Ba phải sang xe Từ Đàm mới ngang qua Trường Đồng Khánh. Cầm chắc trễ nhưng tôi không dám trở về vì có giờ kiểm tra của Thầy. Hôm ấy trời rất rét. Răng tôi cứ va vào nhau lập cập, một phần vì lạnh, một phần vì sợ… Hú vía, lọt qua cánh cổng trường trống mới điểm. Từ cổng vào lớp khá xa, tôi ôm cặp chạy bởi trống đánh là Thầy đứng lên ngay sải bước. Tôi cắm đầu cắm cổ chạy đến nỗi va cái rầm vào một người. Ngước mắt lên, tôi chạm phải cặp kính cận, cái cặp của nhà ngoại giao, cái áo dạ to đùng… Chỗ va lại là cửa lớp.
...
 "Mấy cô cứ xô tui mà chạy, hễ tui đặt chân lên cửa lớp mà học trò chưa vô là coi như … absent (3)" ! Học trò đi sau Thầy có đứa lấy cặp che mặt phóng ù qua Thầy để được vào lớp. Còn tôi đang đối mặt với Thầy ở ngưỡng lớp. Và tôi run… Một bước chân nữa là vào được lớp. Nhưng phải lách qua Thầy, phải chạm vào Thầy. Khái niệm xô tui mà chạy làm tôi hoảng. Dưới mắt tôi, bóng Thầy cao quá, to quá choáng gần hết cửa lớp. Tôi đứng chôn chân. Thầy cũng đứng yên nhìn tôi chờ đợi. Một phút hay hai phút không biết nữa nhưng với tôi dài lắm. Rồi hai cái chân cùng cử động. Thầy bước tới, qua cửa lớp. Tôi bước lui, ra hành lang. Écrivez! - giọng Thầy cất lên rồi những ngòi bút của các bạn tôi rào rào như mưa rơi trên giấy. Mưa cũng rơi trên mặt tôi…
..
Tôi ôm cặp đi ra bãi cỏ sau trường. Đêm qua, tôi đã thức thật khuya để học thuộc đến từng dấu phẩy bài luận Pháp văn. Tôi đã tháo giấy trắng làm bài dịu dàng đến nỗi lổ thủng còn bé hơn cả cây kim. Tôi đã quẳng xe ở nhà người lạ không biết còn hay mất. Tôi đã đổi hai lần xe buýt, trái tim gần văng ra ngoài. Thế mà chừ ngồi ở bãi cỏ. Trút xong nước mắt, tôi bỗng nhẹ lòng. Khoảng trời trên đầu xanh tha thiết. Tôi bỗng nhận ra sau mưa trời như trút được gánh nặng, trong vắt. Cỏ dưới chân mượt đến mềm lòng. Hai hàng cây bạch đàn trên đường Anh - đường Em (4) chụm đầu thủ thỉ hoài không dứt. Mãi đến lúc sắp chia tay, tôi mới nhận ra ngôi trường mình học bảy năm dài đẹp đến từng góc xó!
...
Sau lần chạm mặt ở ngưỡng cửa lớp hôm ấy, tôi có cảm tưởng ánh mắt Thầy nhìn con bé nhút nhát ngồi bàn đầu là tôi dịu hơn, thân thiết hơn. Đôi mắt không lời nhưng tôi hình dung đủ mọi thứ lời nói với tôi. Năm học trôi qua vèo vèo. C1 giờ đã quen với luật nhà binh của Thầy. Tụng cũng giỏi không thua chi dân A. Chúng tôi thích những giờ littérature française Thầy dạy, những câu chuyện Thầy kể. Chúng tôi nghe say mê cuộc đời của vợ chồng nhà bác học Pierre và Marie Curie - người đã trải bao gian khó để tìm ra chất phóng xạ, về vẻ đẹp của vịnh Hạ Long… Thầy có tài kể chuyện và giúp những tâm hồn vốn đã mơ mộng của C1 thăng hoa. Những câu chuyện kể của Thầy bao giờ cũng gieo vào đầu óc chúng tôi khát vọng làm việc và tình yêu cuộc sống. Thầy cho chúng tôi kiến thức và cả quy tắc sống, làm việc. Đâu vào đó. Quy củ. Nguyên tắc. Cứng thật đấy nhưng không lạnh. Như mặt trong của bàn tay - ấm áp, mềm mại, rối rắm yêu thương.
...
Khi tôi đã là cô giáo, có một lần tôi gặp Thầy đi bộ một mình trên đường Chi Lăng. Tôi cúi đầu thưa Thầy. Thầy hỏi chuyện tôi. Ánh mắt vẫn sắc sảo. Nụ cười vẫn hóm. Trước khi đi, Thầy bỗng nhìn tôi nói: Tính cách quyết định số phận, con ạ!... Thầy đi, bóng ngã liêu xiêu, nhưng đối với tôi vẫn sừng sững to lớn như ngày nào ở ngưỡng cửa lớp.
...
Thầy mất đã gần mười năm. Cô học trò nhút nhát, nhỏ nhắn, lặng lẽ năm nào giờ cũng đã ở tuổi Thầy ngày ấy. Năm tháng qua đi nhưng có những khoảnh khắc ở lại. Về lại trường cũ, đi qua hành lang, tôi vẫn nghe vọng tiếng chân, giọng nói Thầy. Trên ngưỡng lớp cũ, tôi vẫn thấy Thầy và mình đứng đó.
..
Tác giả: Quế Hương ĐK69
...
(1)  Ban Văn chương, sinh ngữ có hệ số cao. Năm đệ nhất học thêm môn Triết
(2) Nhại từ philosophe (triết gia)
(3) vắng
(4) Học sinh gọi con đường nhỏ giữa hai trường Quốc Học và Đồng Khánh...
..
.

Saturday, May 10, 2014

Mother's Day 2014

..
..
..
NGUỒN GỐC LỄ MOTHER'S DAY
...
Cách đây gần 100 năm, Anna Jarvis đã vận động chính phủ Hoa Kỳ thành lập một ngày lễ để tri ân những người mẹ. Để cổ động cho việc này bà đã viết bài đăng báo, thuyết trình tại các nhà thờ, gởi thư cho các viên chức chính phủ. Trước tấm lòng và sự kiên trì của bà, ngày 8 tháng 5 năm 1914, Tổng Thống Woodrow Wilson đã ban hành một sắc lệnh chọn ngày Chúa Nhật thứ hai của tháng Năm làm ngày Mother’s Day. Kể từ đó, hằng năm không phải chỉ tại Hoa Kỳ mà hàng tỷ người tại hơn 65 quốc gia trên thế giới đã chọn ngày này để tôn kính người mẹ. Hơn một chục quốc gia khác cũng chọn một ngày khác trong tháng Năm để tri ân mẫu thân....
..
Nguồn Gốc
...
Ann Maria Reeves Jarvis, mẹ của Anna Jarvis, là một phụ nữ đáng kính. Bà là nguồn động lực khiến cho con gái của bà là Anna Jarvis vận động để thiết lập ngày Mother’s Day. Cuộc đời của Ann Maria Reeves Jarvis đánh dấu bằng những chuỗi ngày yêu thương chồng con, góp phần cho Hội Thánh và tận tụy với công tác xã hội
....
Ann Maria Reeves Jarvis sinh ngày 30/9/1832 tại Culpeper, Virginia. Bà là con gái của Mục sư Josiah W. Reeves và bà Nancy Kemper Reeves. Năm 1850, sau khi cha của bà được thuyên chuyển đến làm mục sư cho Hội Thánh Tin Lành Giám Lý tại Philippi thuộc Barbour County, West Virginia, Ann đã lập gia đình với Granville Jarvis, con trai của một mục sư Baptist tại thị trấn này. Theo gương của hai người cha, Granville Jarvis cũng trở thành mục sư và hầu việc Chúa trong Hội Thánh Tin Lành Giám Lý...
Ann Maria Reeves Jarvis đã giúp chồng rất nhiều trong những năm tháng chồng bà phục vụ Chúa. Bà làm giáo viên Trường Chúa Nhật dạy các em thiếu nhi suốt 25 năm. Bà đã hổ trợ cho chồng trong việc xây dựng nhà thờ cho Hội Thánh Andrews Methodist Church tại Grafton, West Virginia (1873). Ann sinh cho chồng 12 người con. Do hoàn cảnh y tế vệ sinh trong thế kỷ 19, bốn người con mất từ những ngày thơ ấu, bốn đứa khác chết khi chưa đến tuổi trưởng thành...
..
Từ những kinh nghiệm đau thương mất mát trong gia đình, Ann Maria Reeves Jarvis không muốn thấy cảnh tang tóc xảy ra trong những gia đình khác. Vấn đề thiếu y tế và vệ sinh là nguyên nhân khiến nhiều trẻ em bị mất sớm. Khi theo chồng thuyên chuyển từ nơi này sang nơi khác để phục vụ Chúa, bà đã thành lập Câu Lạc Bộ Các Bà Mẹ tại các thành phố Webster, Grafton, Fetterman, Pruntytown và Philippi nhằm cải thiện những điều kiện vệ sinh và sức khỏe trong các gia đình. Các câu lạc bộ này gây quỹ mua thuốc giúp người nghèo, kiểm soát thực phẩm và sữa mà các tiệm tạp hóa bán cho người dân, mướn người giúp con cái các bà mẹ bị bệnh lao...
....
Khi cuộc nội chiến Hoa Kỳ xảy ra, Ann Maria Reeves Jarvis kêu gọi Câu Lạc Bộ Các Bà Mẹ đứng trung lập về mặt chính trị. Họ cứu chữa thương binh cả hai bên. Bà cũng kêu gọi các cộng đồng giữ sự hiệp nhất giữa những khác biệt chính trị trong thời nội chiến. Ann Maria Reeves Jarvis vận động thành lập “Mother’s Friendship Day” – ngày tương thân của các bà mẹ – với mục đích tạo sự hiệp nhất giữa những gia đình đã chia rẽ vì những khác biệt đã xảy ra trong chiến tranh. Ann Maria Reeves Jarvis ước mong cơ hội thân hữu này sẽ được tổ chức hằng năm và sẽ là dịp để tưởng nhớ các bà mẹ. Tuy nhiên, những cố gắng đó của bà không thành, Ann Maria Reeves Jarvis về với Chúa vào ngày 9/5/1905 tại Bala-Cynwyd, Philadelphia...
...
Vận Động Thành Lập Lễ Mother’s Day
..
Cũng trong khoảng thời gian đó tại New York (1872), Julia Ward Howe, tác giả của bản thánh ca The Battle Hymn of the Republic, công bố Mother’s Day Proclamation. Dưới sự vận động của Julia Ward Howe, Mother’s Day được tổ chức tại Boston được khoảng 10 năm rồi ngưng.
...
Marie Jarvis, con gái của Ann Maria Reeves Jarvis, là người rất gắn bó với mẹ mình. Sau khi Ann Maria Reeves Jarvis mất, Anna Jarvis tiếp tục vận động để thành lập ngày Mother’s Day theo ước nguyện của mẹ.
...
Ngày 12/5/1907, Anna Jarvis cùng những người thân từ Philadelphia trở về Andrews Methodist Church tại Grafton, West Virginia, là hội thánh nơi cha bà từng làm mục sư, mẹ bà đã dạy Trường Chúa Nhật để tưởng niệm người mẹ là bà Ann Maria Reeves Jarvis. Anna Jarvis trình bày với hội thánh, nơi cha mẹ bà đã gây dựng nhà thờ, ước nguyện của mẹ mình về việc thành lập Mother’s Day. Với sự ủng hộ các bà mẹ trong các hội thánh và sự giúp đỡ của John Wanamaker, cựu Tổng Giám Đốc Bưu Điện Hoa Kỳ, ý nguyện về việc thành lập ngày tưởng nhớ và tri ân các bà mẹ được loan truyền. Sau đó, Anna Marie Jarvis tiếp tục vận động bằng nhiều cách để ngày tri ân các bà mẹ được trở thành ngày lễ chính thức
..
Tháng Năm năm 1908, một lễ kỷ niệm Mother’s Day chính thức được tổ chức tại nhà thờ Andrews Methodist Church. Sau đó, một buổi lễ mở rộng cho công chúng được tổ chức tại Wanamaker Auditorium tại Philadelphia. Năm 1909, lễ Mother’s Day được tổ chức tại New York. Năm 1910, Tiểu bang West Virginia chính thức công nhận lễ Mother’s Day. Sau đó, các tiểu bang khác lần lượt công nhận ngày lễ này. Ngày 8/5/1914, Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua một đạo luật công bố Chúa Nhật thứ hai của tháng Năm là ngày Mother’s Day. Từ đó, Mother’s Day trở thành ngày lễ chính thức trên toàn nước Mỹ.
..
(sưu tầm)
..
....
.
(Nguồn: Internet)
.

Tuesday, April 29, 2014

Ngụm Cà phê tháng tư

Trương Mỹ-Vân (ĐK 67) sưu tầm
.
.......
.....
..
NGỤM CÀ PHÊ THÁNG TƯ
..
TÁC GIẢ: TRẦN MỘNG TÚ
Ta ngồi một mình
ly cà phê cạn
lòng như tháng tư
Đứt ra từng đoạn

..
Tháng tư, tôi ngồi trong quán cà phê Starbucks trên đường 20th của thành phố tôi cư trú. Tôi cúi xuống nhìn mầu cà phê đen đặc, sóng sánh sót lại một ngụm trong chiếc ly giấy. Tôi cầm chiếc ly chao nhẹ đi một chút, do dự chưa muốn ngửa cổ uống nốt ngụm cuối cùng. Ngụm cà phê trông như ngụm nước mắt đen. Chao ôi nước mắt đã có một lúc nào đó, ta ngửa cổ uống được cả ngụm hay sao !
Tháng tư, tháng tư, tháng tư năm đó! Đứt ra từng đoạn: đoạn cha, đoạn mẹ, đoạn vợ, đoạn chồng, đoạn con, đoạn anh, chị, em, đoạn bạn hữu. Mỗi đoạn đứt một chỗ, rơi một nơi, đoạn mất đi ngút ngàn biệt tích, không để lại dấu vết, đoạn còn sót lại ngơ ngẩn, mù lòa.
Tháng tư của ba mươi bẩy năm sau, ngụm nước mắt không bao giờ cạn được.
Tôi ngồi trong quán một mình. Ngó những khuôn mặt lạ, họ không phải bạn bè, nhưng vẫn thấy thân thuộc, vì đó là những khuôn mặt của dân bản xứ tôi gặp thường ngày. Cách ăn mặc và lối cư xử của họ na ná giống nhau. Mình nhìn mấy chục năm, mình quen với cách kéo ghế, cách chụm đầu vào nhau nói khe khẽ, cách nghiêng mình xin lỗi của họ khi phải đi qua mặt ai, nên bỗng trở thành gần gũi.
Tự ngậm ngùi tưởng tượng, nếu bây giờ mình ngồi ở trong một quán cà phê ở Việt Nam, ngắm những người ngồi chung quanh, chắc chắn mình sẽ thấy lạc lõng lắm, vì cách ăn mặc và cư xử rất khác mình. Họ cũng sẽ chẳng để mắt nhìn đến mình, một kẻ thường thường trên mọi phương diện. Mình lạc lõng ngay chính trên quê mình.
..
Ngồi một mình với ly cà phê Starbucks trong một ngày của tháng tư, quê người; tôi chỉ nhìn ra mình là người lạ với chính mình. Cúi nhìn mấy ngón tay đang cầm ly, những ngón tay gầy đã bắt đầu xanh xao gân lá, biết mình ở đây lâu lắm rồi. Đôi vai bỗng trĩu nặng như có bàn tay ai vô hình ấn xuống ghế. Thôi, đã đến đây rồi, thì ngồi xuống đây, còn đi đâu được nữa. Ngồi đây mà hồn như thác đổ, tiếng nước ầm ầm vọng tới từ một ký ức xa xôi, rồi bỗng òa ra khi chạm vào tảng đá cuối cùng, tảng đá tháng tư.
Tháng tư ở đây là mùa xuân, chim chóc rủ nhau bay vào thành phố, hoa đào nở hồng trên mỗi con đường, nắng mới lách mình vào những khung cửa mở, trong vườn nhà ai hoa táo, hoa lê trắng xóa. Những người Việt di tản như tôi, tháng tư không ít thì nhiều quay đầu nhìn lại quá khứ, nhớ lại những giọt nắng quê nhà năm đó hòa vào máu và nước mắt. Hoa nắng quê người chỉ làm gợi thêm nỗi xót xa.
Anh ạ tháng tư mềm nắng lụa / hoa táo hoa lê nở trắng vườn / quê nhà thăm thẳm sau trùng núi / em mở lòng xem lại vết thương.
Chung quanh tôi, một vài bàn nhỏ có người ngồi trước tách cà phê và cái laptop. Họ im lặng làm việc, học hay sáng tác. Có người với một tờ báo mở trước mặt, hay hai người bạn thì thào nho nhỏ. Quán tĩnh mịch, nghe được cả tiếng gõ khe khẽ của những ngón tay chạm trên bàn phím, thậm chí cả tiếng thở của người ngồi ở bàn gần mình.
Tôi ngồi với ly cà phê cạn. Tôi biết trang mạng của người Việt khắp nơi trên thế giới, vào mỗi tháng tư họ cũng trao đổi cho nhau trên khung hình nhỏ: những tấm hình đang bốc lửa, những khẩu súng đang nhả đạn.Tiếng người đang khóc, đang la vang, đang chạy hoảng loạn, đang giẫm lên nhau. Tiếng súng nổ, tiếng kêu thất thanh….Tất cả hiện ra trên khung hình nhỏ.
Trong một tiệm cà phê ở Mỹ. Tôi ngồi đó, ngửa mặt uống ngụm cà phê đen cuối cùng. Bỗng dưng má tôi ươn ướt. Nước mắt ứa ra từ hai con mắt, bờ mi đã bắt đầu sụp xuống như hai chiếc lá cuốn khô. Nước mắt của một người di tản vì chiến tranh lâu quá rồi, xót xa cho phận mình, phận người, phận quê hương đất nước.
Ba mươi bẩy năm rồi, mà thỉnh thoảng vẫn đọc được ở trên mạng, lẫn vào những bài vở giải trí, kiến thức hay nghệ thuật, những lời nhắn với nội dung thật buồn: Một hài cốt với tên họ, ngày sinh và số quân đầy đủ của một quân nhân VNCH, ai đó vừa tìm được bên đường. Mong có thân nhân đến nhận. Nào ai biết thân nhân của bộ xương đó còn sống hay đã chết? Tin đó đến từ Việt Nam và đã chuyển đi nhiều lần.
Tin những người ở Mỹ về bốc mộ, một hố chôn tập thể của binh sĩ VNCH trong một sân trường hay bên cạnh một con mương. Tin cả trăm bộ xương tìm thấy ở ven biển miền Trung không biết của bên này hay bên kia. Rồi còn cả những tin như sĩ quan H.O qua đời ở Mỹ không có thân nhân, được những người trong cộng đồng phụ nhau mai táng. Lời nhắn về một vị tá Hải Quân, có con ở Cali. Xác nằm trong bệnh viện Texas hai tuần rồi. Cha qua đời, con ở đâu chưa đến nhận.
Những dòng chữ như thế, thực sự là một “Tin Buồn” với ý nghĩa đúng nhất của nó.
Tháng Tư là tháng tôi sợ đọc, sợ xem hình trên mạng. Sợ nhìn lại những hình ảnh và đọc lại những bài viết kinh hoàng của những nạn nhân vượt biển; hình ảnh nghĩa trang quân đội bị đập phá trong tủi nhục; những câu chuyện thương tâm của tù nhân và nhà tù cải tạo; Sợ phải xem lại những hình ảnh của một thành phố mình đã sống và lớn lên bị tàn phá bởi chiến tranh; sợ những bức hình và tên tuổi, binh nghiệp của các tướng lãnh tự sát vào ngày cuối cùng, tôi sợ mỗi khi đọc thêm một danh sách tự vận của các cấp tá, cấp úy, các hạ sĩ quan. Họ tự sát riêng lẻ hay có khi cùng với vợ con. Những bức hình im lìm đó là những tiếng gào thét phẫn nộ của những anh hùng VNCH. Tôi không nhớ là mình đã đọc được câu này ở đâu: “Thật đáng thương cho một đất nước nào có quá nhiều anh hùng” vì anh hùng đồng nghĩa với hy sinh và cái chết.
Đau đớn nhất là bao giờ khi xem hình, khi đọc những bài viết xong, cuối cùng mình nhận thức rất rõ rệt: đó là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Người giết và người bị giết đều mang họ Nguyễn, họ Lê, họ Trần…
Ba mười bẩy năm rồi, người ta nói là Việt Nam đã hết chiến tranh, người dân đã có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nhưng trên mạng, người Việt trong và ngoài nước vẫn có những dòng chữ gửi đến cho nhau mang theo những thông điệp thật buồn: Việt Nam tôi đâu? Người dân mất nhà, mất đất. Gái Việt bán sang Đài Loan. Gái Việt xếp hàng lấy chồng Đại Hàn. Không có Tự Do cho Việt Nam. Ngư dân Việt bị tầu Trung Quốc bắt ngay trên biển của mình. Nước Việt âm thầm mất dần từng mảnh cho Trung Quốc….
Tháng tư, cà phê đắng, đắng thêm khi pha vào những giọt nước mắt vì nước mắt bao giờ cũng có muối ở trong. Nỗi đau tháng tư với một số đông người Việt ở thế hệ bạn hữu tôi, là một vết thương không thành sẹo được, nó lên da non, rồi ngưng lại ở đó. Nhìn xuống vẫn thấy màu hồng, vẫn thấy như còn rơm rớm máu.
Tôi cúi xuống nhìn chiếc ly không, tự lấy tay áo lau thầm những giọt nước mắt mình. Đứng dậy, trở về một nơi tôi gọi là nhà, tiếp tục sống với trái tim di tản.
Vạt nắng tháng tư chỉ bay xiên vào trong quán này một năm một lần, nhưng khi tôi đến đây, dù bất cứ tháng nào trong năm, hồn tôi, tháng tư có thể đến bất chợt ghé xuống và rơi cùng những giọt cà phê.
Anh ạ tháng tư sương mỏng lắm / sao em nhìn mãi chẳng thấy quê / hay sương thành lệ tra vào mắt / mờ khuất trong em mọi nẻo về.
..
Tác giả: Trần Mộng Tú
(Nguồn: Trang VănHọcNguồnCội)...
.
M V (Vancouver) sưu tầm
.

..

Monday, April 28, 2014

xem tranh TTM

(BÀI SƯU TẦM)
..
XEM TRANH THÂN TRỌNG MINH
.
Võ Công Liêm Nhận Định
.)
...
..TRANH THÂN TRỌNG MINH
 ‘Mặt Nhìn Mặt /Face to Face’.
Khổ 12’ X 15’ Oil trên giấy. 12/2012. Bản tác giả ký tặng vcl SGN 3/2014   
...
Một trong những điều tôi ghi nhận ở Thân Trọng Minh là ngữ ngôn trong tranh của anh. Lần đầu tiên đối thoại, tôi nhận thức được sự chia sẻ qua từ ngữ của người vẽ – from the first conversation we had, I was aware of the shared vocabulary of the painter. Đó là cái nhìn chứng minh giữa họa sĩ và người xem tranh. Một ghi dấu trong tôi với một không khí ấm cúng (warm air) một không gian trong sáng (clear space) nằm sau một con hẻm nhỏ THĐ, Sàigòn. Ở đây Thân Trọng Minh trải rộng tấm lòng của một người nghệ sĩ đúng cách, một tinh thần không pha trộn tạp nham giữa đời thường. Trung thực ở chỗ đó. Họ Thân có một chiều dài quá trình nghệ thuật – nhất là hội họa – anh giải thích ngắn gọn; nghĩa là không phô diễn một thoả mãn nào nơi cái ‘tôi’, anh chỉ tỏa ra một sự bằng lòng riêng anh, mặc dầu bên anh là một bề bộn ngổn ngang; chi tiết hóa phương cách hoạt động làm việc là một cái bàn bày biện đủ mọi thứ, cái ‘mixed’ đó là ảnh hưởng phần nào sắc màu ở trí tuệ của một người yêu vẽ.