Wednesday, April 7, 2010

Ca Dao và Lịch Sử

.........
..
.CA DAO V À LỊCH SỬ
....
Tác giả: Tuệ Chương Hoàng Long Hải
.....
Có lẽ trong cuộc sống cũ trước năm 1975, sau khi rời ghế nhà trường, chúng ta không có thì giờ, không có cơ hội để trở lại với văn chương bình dân mà chúng ta đã được học trong chương trình giáo khoa. Qua tới Mỹ, vấn đề văn hóa bỗng trở nên có sự cọ xát mãnh liệt giữa chúng ta và con cái, giữa văn minh Âu Mỹ và văn minh Việt nam nên có nhiều người muốn tìm hiểu lại văn hóa của dân tộc, nhất là trong lãnh vực giáo dục con cái. Điều đó không phải không có khó khăn.
.....
Chúng ta lãnh hội ý nghĩa ca dao tục ngữ một cách dễ dàng vì chúng ta lớn lên trong môi trường văn hóa Việt nam. Nói chi xa, chúng ta được giáo dục không những chỉ ở cha mẹ ông bà mà ngay cả nơi bà con, hàng xóm láng giềng. Nói như thế, có nghĩa là chúng ta không chỉ học văn chương bình dân ở ghế nhà trường mà thôi mà ngay cả trong cuộc sống hàng ngày, khi còn đi học hay khi đã vào đời.
......
Sự cọ xát giữa hai nền văn minh làm cho chúng ta thấy văn chương bình dân VN là hay, nhất là trong ca dao, tục ngữ và muốn truyền thụ lại cho em chúng ta những tinh hoa của người xưa mà một thời vì công ăn việc làm, vì đeo đuổi công danh sự nghiệp, mà chúng ta hầu như lãng quên.
.....
Theo các nhà tây phương nghiên cứu văn học VN thì họ cho rằng tục ngữ là cái túi khôn của người VN. Họ tìm thấy trong đó những kiến thức mà một đứa bé mới chập chững biết đi đã được dạy dỗ. Chẳng hạn như câu “Con mèo con chó có lông, ống tre có mắt, nồi đồng có quai.”
..
Người lớn, ai chẳng biết như thế. Nhưng với trẻ em mới bắt đầu biết nhận xét, thì những câu nói như thế lại rất ích lợi cho nó. Đứa bé thấy cái lông con chó, thấy cái mắt ống tre, nhưng chưa biết gọi những cái ấy bằng tên gì. Đó là cách dạy cho đứa bé gọi tên những đồ vật trong nhà. Đó chỉ là một ví dụ đơn giản. Ngoài ra, tục ngữ còn dạy ta bao nhiều tri thức khác. Chẳng hạn như về thời tiết thì “Vàng gió, đỏ mưa”. “Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão.”
Nước ta là một nước nông nghiệp. Thời xưa, chưa có đài khí tượng, việc xem xét “thiên văn” để trồng trọt là điều rất cần thiết. Không có kinh nghiệm đó, gieo mạ, cấy lúa (hoặc ra khơi nếu ở vùng biển làm nghề đánh cá) vào lúc chuồn chuồn bay thì sẽ gặp bão.
......

Những cái hay hay túi khôn của người Việt chúng ta, tôi sẽ nói trong một bài khác. Bài này, tôi muốn nói về ca dao có liên hệ đến lịch sử mà mới đây vài người bạn thân có than phiền với tôi là rất nhiều khi họ không hiểu trọn vẹn những câu ca dao đó. Tôi cũng không gì hơn. Nhờ có 10 năm dạy văn chương bình dân cho học sinh, tôi có để tâm đọc một số sách, báo, thâu thập vài ý kiến đã nghe từ các bậc lão huynh nói lại. Cho nên tôi trích lại đây và giải thích một vài câu mà tôi thấy hay và rất phổ cập, để làm quà cho độc giả. ....
...

..
......
Nếu nói tục ngữ là sự khôn ngoan của người VN thì ca dao thuộc đời sống tình cảm của họ. Người Việt chúng ta có một đời sống tình cảm khá phong phú và họ thường gởi gắm tình cảm đó vào ca dao. Dân tộc chúng ta có những đặc thù mà đời sống tình cảm lại phong phú hơn các dân tộc khác. Tại sao? Điều đó rất khó giải thích. Tuy nhiên căn cứ vào lịch sử (lịch sử bao giờ cũng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống dân tộc) thì có lẽ vì tổ tiên chúng ta sống bên cạnh một anh khổng lồ, mà anh khổng lồ đó luôn luôn chực chờ cơ hội để đè đầu cưỡi cổ chúng ta, bóc lột chúng ta tận xương tủy, thì việc đoàn kết để sinh tồn là điều bắt buộc. Sự đoàn kết đó phải chặt chẽ, bền vững và lâu dài mới có kết quả. Sự đoàn kết nếu chỉ như bong bóng, thì nước ta không thể tồn tại sau một ngàn năm Bắc thuộc, không thể có ba lần đánh tan quân Mông cổ ở thế kỷ thứ 13, không thể có “mười năm bình định giặc Minh” của Lê Lợi. Sự đoàn kết đó không những nảy sinh từ cái đã có mà còn phát triễn mạnh thêm ra. Đó chính là tình cảm dân tộc vậy. Chỉ nói chừng đó thôi, chúng ta đã thấy dân tộc chúng ta khác với các dân tộc khác rồi.
......
Bên cạnh đó, cuộc Nam tiến của cha ông chúng ta không phải là không quá nhiều gian lao. Cứ những câu như “Cọp Khánh Hòa, ma Bình thuận” thì ta cũng đã thấy rõ sự ghê rợn của cuộc Nam Tiến. “Tới đây đất nước lạ lùng, nghe con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kiêng”. Đó không phải là tâm trạng sợ hãi của cha ông chúng ta khi tới một vùng đất mới? Hay “Xứ đâu như xứ Cạnh đền, muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội lền như bánh canh.” . Đó không phải là những khó khăn ghê gớm khi cha ông chúng ta vào tới Miền Tây Nam bộ.
Đọc “Hương rừng Cà Mâu”, “Tìm hiểu đất Hậu Giang” của Sơn Nam mới thấu hiểu những khó khăn vô cùng của cha ông chúng ta ngày trước. Tiếc rằng, dân tộc chúng ta quá nhiều “bận bịu” với chiến tranh mà không có thì giờ nghiên cứu, tìm hiểu thêm những nỗi gian khổ và nhọc nhằn của cha ông chúng ta trong cuộc Nam tiến để mô tả lại thành những cuốn phim như loại phim Western của Mỹ. Điều này cần hơn những loại phim như “Hà nội ta đánh Mỹ giỏi” hay “Lấy thân mình lấp lỗ châu mai”.
.. ...
Có lẽ không ít người không đồng ý với tôi khi tôi cho rằng dân tộc ta có khuynh hướng chia rẽ. Tự ái dân tộc khiến cho chúng ta nhiều khi rất chủ quan. Nhưng thử đặt một câu hỏi: Nếu không có sự chia rẽ thì sao lại phải kêu gọi đoàn kết, ngay từ khi đất nước mới hình thành. Đừng nói là chúng ta không kỳ thị hay phân biệt đối xử với các sắc tộc khác cùng ở trong nước mà đó không phải là điểm khởi đầu cho sự chia rẽ đó sao?!
..
Ngay như truyện Tiên Rồng, truyện cổ tích về nguồn gốc dân tộc, thì khởi thủy cũng là một sự chia lìa giữa 100 đứa con của ông vua Rồng (Lạc Long Quân) và bà vợ Tiên (Âu Cơ). Chúng ta thường tự hào về nguồn gốc Tiên Rồng của mình, nhưng suy cho kỹ thì Tiên Rồng phải chia rẽ nhau. Đã nói chia rẽ thì còn đoàn kết ở đâu. Sách Việt Nam Sử Lược, trang 12, Trần Trọng Kim viết:
..
“Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một trăm người con trai (* -TTK chú thích: “Có sách chép rằng Âu Cơ đẻ ra một trăm cái trứng nở ra một trăm người con trai”). Lạc Long quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta là dòng dõi Long quân, nhà ngươi là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được. Nay được trăm đứa con thì nhà ngươi đem năm mươi đứa lên núi, còn năm mươi đứa ta đem xuống bể Nam Hải.”
......
Thần thoại Mường cũng nói: “Một ngày kia có một cây si to lớn mọc trên núi cao, bị bão đổ xuống, trong đó bay ra một đôi chim lớn. Chúng đến ở động Hào, ngày nay là hang đá Ma Chung Diên, ở về xóm Phú Nhiên làng Ngọc Hào, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đôi chim này đẻ ra một trăm cái trứng, trong đó có ba cái lớn dị thường. Đẻ xong, đôi chim biến thành người, gọi tên là Ay và Ua tức là hai con người đầu tiên ở trên mặt đất.
“Đã năm tháng qua mà không một cái trứng nào nở cả, thất vọng, Ay và Ua mới vào rừng. Gặp hai bà tiên tên là Dam Cha Cu và Gia Cha Cang, hai người liền bày tỏ nỗi lo âu. Hai bà tiên bảo:
“Hai con hãy về xếp lớp, cứ mỗi lớp năm chục quả trứng. Lấy thứ cỏ huyền diệu này về để ấp trứng. Cứ năm ngày lại thay đổi, lớp trên xuống dưới, lớp trứng ở dưới để lên trên. Cứ thế, sau năm mươi ngày cả trăm trứng sẽ nở ra con.” Ay và Ua chưa kịp tạ ơn, hai bà tiên đã biến mất trong rừng. Trở về hang, Ay và Ua làm y theo lời các bà tiên, và năm mươi ngày sau, chín mươi bảy quả trứng nở thành người: năm mươi người về đồng bằng thành người Kinh, còn bốn mươi bảy người ở mạn ngược…” (Việt Nam Văn Học Toàn Thư- cuốn I -Thần Thoại – Hoàng Trọng Miên – trang 111).
.....
Cũng thần thoại Mèo nói trời đất sinh ra một trái bầu, có trăm đứa trẻ. Trời bèn lấy dùi sắt nung đỏ dùi vào trái bầu một lỗ cho trẻ chui ra. Những đứa gần lỗ dùi, vì nóng nên da chúng đen, ấy là người miền núi, những đứa ở xa lỗ dùi, không bị nóng nên da trắng. Ấy là người Kinh.
Nói chung thì bao giờ cũng có một sự chia rẽ trong thần thoại hay cổ tích như trên. Hoặc vì tiên rồng mà xa nhau, hoặc vì da đen da trắng mà xa nhau.
.......
Xem như vậy, kêu gọi đoàn kết là vì có chia rẽ. Nếu không có chia rẽ, không ai phải kêu gọi đoàn kết làm gì. Sự kêu gọi đó, đã xuất hiện từ lâu lắm, ngay từ khi hoặc trước khi ông cha chúng ta lập quốc. Ngay như cộng đồng VN ở Mỹ, ở rất nhiều thành phố, sự chia rẽ là rất rõ ràng. Người qua đã lâu, giàu có; người mới qua sau, còn nghèo; người có chức quyền trong chế độ cũ, người không có gì, thậm chí ngày trước là đào binh, trốn quân dịch hay Việt Cọng hay từ miền Bắc VN tới, v.v… và v.v… Trong một dịp khác, tôi sẽ nói tới vấn đề này.
.. ...
Khi người Tàu qua đô hộ ta, kể từ năm 111 trước Tây lịch, thì đã không ít người chạy theo người Tàu mà kiếm vinh hoa phú quí, nhẫn tâm sống trên sự đau khổ của đồng loại. Do đó, ngay khi khởi nghĩa chống Tô Định, hai bà Trưng đã phải kêu gọi:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
....
Sử chép rằng:
“Năm giáp ngọ (34), là năm Kiến Võ thứ 10, vua Quang Vũ (nhà Hán -tg) sai Tô Định sang làm thái thú quận Giao chỉ.
Tô Định là người bạo ngược, chính sách tàn ác, người Giao chỉ đã có lòng oán giận lắm. Năm canh tý (40), người ấy lại giết Thi Sách, người ở quận Châu Diên (Phủ Vĩnh Tường, trước thuộc Sơn Tây, nay thuốc Vĩnh Yên).
Vợ Thi Sách là Trưng Trắc con gái quan lạc tướng ở huyện Mê Linh (làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên), cùng với em gái là Trưng Nhị, nổi lên đem quân về đánh Tô Định. Bọn Tô Định phải chạy trốn về quận Nam Hải.
Lúc bấy giờ những quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp phố cũng nổi lên theo về với hai bà Trưng thị. Chẳng bao lâu, quân hai bà hạ được 65 thành trì. Hai bà tự xưng làm vua, đóng đô ở Mê Linh, là chốn quê nhà.
.. ....
Dân tộc VN chúng ta sống trên một dãi đất hẹp, phía Đông là biển, phía Tây là núi. Muốn tồn tại, cha ông chúng ta phải chiến đấu ở cả hai mặt Bắc và Nam. Mặt Bắc thì chống lại người Tàu xâm lăng, mặt Nam thì phải đánh nhau với người Chiêm Thành, người Chân Lạp, người Lão qua và cả người Xiêm la (Thái Lan ngày nay) để mở mang bờ cõi. Do vậy mà người đàn ông lắm khi phải đi xa, để tham gia chiến tranh. Ngay trong thời bình cũng phải ra biên ải để canh phòng. Trong viễn ảnh đó, một mặt thì người đàn bà khuyên chồng mạnh dạn lên đuờng, một mặt thì kiên trì chờ đợi:
Anh ơi phải lính thì đi,Cửa nhà đơn chiếc đã thì có em.
Tuy khuyên chồng hăng hái lên đường nhưng trong lòng thì đau đớn lắm.
Sống bên cạnh anh khổng lồ, luôn luôn tìm cơ hội nhòm ngó xâm chiến nước ta nên việc canh phòng biên ải không thể bỏ ngơ. Người đàn ông phải đi thú, ba năm một kỳ mới về. Người lính thú:
..
Ngang lưng thì thắt bao vàng,
Đầu đội nón dấu vai mang súng dài.
Một tay thì cắp hỏa mai,
Một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền.
Thùng thùng trống đánh ngũ liên,
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.
Ba năm đẵn gỗ trên gàn,
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai.
Miệng ăn măng trúc măng mai,
Những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng
 ......
Bao vàng: thắt lưng màu vàng. Nón dấu: gần giống như nón lá nhưng nhỏ hơn, có chóp đồng. Súng dài # súng hỏa mai: Súng ngày xưa, bắn phải châm ngòi. Trống đánh ngũ liên: Trống đánh năm tiếng một liền nhau, thúc gịuc quân lính lên đường. Măng trúc măng mai: Một loại măng miền núi. Giang và nứa: Một loại tre thân dài mọc theo triền núi.......
Miền núi không đủ gạo ăn nên người vợ: ..(Con cò lặn lội bờ sông),
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.
Nàng về nuôi cái cùng con, 
Để anh đi trẩy nước non Cao bằng. 
.. 
Đi trẩy là đi lính thú, ra ngoài biên ải để canh phòng bọn xâm lăng. Ngày nay đi lính còn được lãnh lương tiền nuôi vợ con. Ngày xưa thì coi như lính… quân dịch, có nghĩa là lính không lương, còn phải nhờ tiếp tế của gia đình.
....
Trong ca dao, con cò thường tượng trưng cho người đàn bà Việt nam, phải nuôi con thay chồng khi chồng đi lính thú, khi chồng không có việc làm, chưa có sự nghiệp. Với Nguyễn Công Trứ thì:
.....
Con cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.
.....
Lộ diệc vũ tùng trung chi nhất,
Thương cái cò lặn lội bờ sông,
Tiếng nỉ non gánh gạo đưa chồng.
Ngoài nghìn dặm một trời một bước.
Trông bóng nhạn bâng khuâng từng bước…

.......
Với Trần Tế Xương, khâm phục và thương xót vợ vì:
Lặn lội thân cò nơi quảng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông
.. ..
Sự tích núi Vọng Phu có lẽ nhiều người biết, nhưng chúng ta cần hiểu thêm một sự phi thường khác của người đàn bà VN. Ôm con chờ chồng là một sự kiên nhẫn bình thường. Ôm con chờ chồng đến hóa đá là sự kiên nhẫn phi thường mà chỉ có người đàn bà VN mới làm được. Các dân tộc khác không thể có được.
Vậy mà, đâu chỉ là một Hòn Vọng Phu ở Lạng sơn mà thôi.
“Đồng Đăng có phố Kỳ lừa,

Có nàng Tô thị, có chùa Tam thanh.”..Dọc theo chiều dài đất nước, có biết bao nhiêu là núi Vọng phu. Núi Vọng phu ở Thanh hóa, ở phía trong đèo Cả (thuộc Phú Yên) và đèo Mẹ Bồng con ở Long Khánh. Nỗi chờ chồng khổ đau của người đàn bà cao như núi, không chỉ là một núi mà rất nhiều núi, từ những ngọn núi ở Lạng Sơn ở cực bắc chạy dài cho tới những ngọn núi cuối cùng của dãy Trường Sơn.
.....
Chuyện nàng Tô thị, chuyện núi Vọng phu thì nhiều, mỗi nơi một cách. Tuy nhiên, nhìn chung, người ta vẫn thường nghĩ rằng đó là câu chuyện một người đàn bà chờ chồng đi chinh chiến lâu ngày không về, khiến người vợ phải chờ chồng lâu đến hóa đá. Có lẽ người ta chịu ảnh hưởng “Chinh Phụ ngâm” chăng?
.....
Nhạc sĩ Lê Thương cũng nghĩ như vậy. Ông còn cho rằng người chồng đó là người lính -một chinh phu- đi mở mang bờ cõi về phía Nam. Ông còn dùng những hình ảnh, những địa danh trong bài hát Hòn Vọng Phu (bài 1, 2 và 3) là những địa danh trong “Chinh Phụ Ngâm” hay trong lịch sử lấy đất Chiêm Thành.“Bên Man khê còn trong gió buị mịt mờ,
Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng
. (Hòn Vọng Phu 1)........
Thì trong “Chinh Phụ Ngâm” cũng có: “Tới Man Khê bàn sự Phục Ba”Phục Ba Tướng Quân là Mã Viên, người cầm quân đi đánh Man Khê.
......
Cũng trong “Chinh Phụ Ngâm:
"Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,

Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.”
......
“Nơi phía Nam, giữa núi mờ.” Có phải đó là Hòn vọng Phu ngang đèo Cả. “Đường Cổ Lũy, đường Ải quan, đường Rừng lá Nước trong,” là địa danh những vùng đất phía nam Trung Việt hay vùng khởi đầu đất Nam Việt.......
Tiếng ai trên núi véo von,
Phải chăng chú lính trên hòn Cù Mông.
Xa xa em đứng em trông,
Hỏi chàng lính mộ thử chồng em đâu.
..
....
Kể từ Hải Vân trở về Nam, chúng ta có nhiều quan ải. Có lẽ sau khi chiếm cứ một vùng nào đó, nhà vua sai lập một quan ải đẻ giữ gìn bờ cõi. Ví dụ Ải Vân Quan ở trên đèo Hải Vân, (Ải Vân là tên cũ, ghi trong sách sử, Hải Vân là tên thường gọi ngày nay), cao 510 mét, giữa Thừa Thiên và Quảng Nam.
......
“Chiều chiều gió thổi Ải vân,
Chim kêu ghềnh đá gẫm thân em buồn.”
Đó là tâm trạng người vợ thương chồng nơi ải quan
.....
Cứ theo sử thì đời Trần Anh Tông, bờ cõi phía Nam của ta đã mở tới Ải Vân. Và Ải Vân trở thành một quan ải để giữ bờ cõi phía nam.
"Hai Châu Ô Lý vuông ngàn dặm,
Một gái thuyền quyên đáng mấy mươi."
Hai câu này không phài là ca dao mà là thơ cổ
.....
Năm Tân Sửu (1301), Thượng hoàng (Nhân Tông) đi sang Chiêm Thành xem phong cảnh, có ước gã Huyển Trân Công Chúa cho vua Chiêm là Chế Mân. Được ít lâu Chế Mân cho người đem vàng bạc và các sản vật sang cống và xin cưới. Triều thần có người không thuận. Chế Mân lại xin dâng châu Ô và châu Ri (Lý) để làm lễ cưới, bấy giờ Anh Tông mới quyết ý thuận gã. Đến tháng sáu năm Bính Ngọ (1306) cho công chúa về Chiêm Thành.
Sang năm sau (1307) vua Anh Tông thu nhận hai châu Ô và Ri, đổi tên là Thuận châu và Hóa châu.
…
(Việt Nam Sử Lược- Cuốn I- Trần Trọng Kim- trang 167)
.....
Đâu có riêng gì “Triều thần có người không thuận” như Trần Trọng Kim viết mà trong dân gian cũng có nhiều người thương tiếc:“Tiếc thay cây quế giữa rừng,
Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo.
Hay:Tiếc thay hột gạo trắng ngần
Đã vo nước đục lại vần lửa rơm
....
Cây Quế là ám chỉ Huyền Trân công chúa. Giữa rừng là giữa xứ Chiêm. Người nước ta coi thường Chiêm thành, xem họ như thổ dân miền núi (Mán, Mường).
Hột gạo trắng ngần là Công Chúa Huyền Trân. Nước đục là vua Chiêm, lửa rơm ám chỉ Trần khắc Chung.
Huyền Trân Công Chúa lấy vua Chiêm Chế Mân được một năm thì Chế Mân mất. Theo tục lệ Chiêm Thành, vợ phải thiêu theo chồng. Vì vậy vua nhà Trần mới sai Trần Khắc Chung, trước là giả đi đám tang, sau là bắt cóc Công Chúa Huyền Trân đem về Bắc. Trần Khắc Chung là người yêu cũ của Công Chúa Huyền Trân. Hai người trốn đi bằng thuyền, gặp bão bị “lạc”, phải một năm sau mới về tới Thăng Long.
......
Ai bảo là tổ tiên chúng ta không kỳ thị, không phân biệt đối xử?
Công lao của công chúa Huyền Trân rất to lớn. Ngày nay có ai về Huế, khen ngợi nơi này phong cảnh đẹp đẽ hữu tình, non xanh nước biếc thì hãy vui lòng nhớ rằng có được nơi này là nhờ công lao của một gái thuyền quyên. Một gái thuyền quyên đáng gì với hai châu Ô-Lý vuông ngàn dặm như câu thơ trích dẫn ở trên.
..
Đoạn sử ở trên có viết: “Đổi làm Thuận châu và Hóa châu.” Sau này gọi chung là Thuận Hóa. Hóa, nói trại là HUẾ vậy. Vậy mà người Huế có ai biết đến công lao của một công chúa Huyền Trân, có một ngày lễ húy nào trong năm để nhớ công ơn của bà?
Trong ca Huế có bài Nam Bình nói về Công Chúa Huyền Trân như sau:
.....
Nước non ngàn dặm ra đi,
Cái tình chi,
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô Ly,
Tiếc thay vì đương độ xuân thì
Số lao đao hay nợ duyên gì
Má hồng da tuyết
Cũng như liễu hoa tàn trăng khuyết
Vàng lộn theo chì
Khúc ly ca, sao còn mường tượng nghe gì
Thấy chim hồng nhạn bay đi
Tình lai láng

Đắng cay muôn phần.

Hướng dương hoa quì.......
Dặn một lời Mân quân
Như chuyện mà như nguyện
Đặng vài phân
Vì lợi cho dân
Tình đem lại mà cân
... ..
Giữa thế kỷ thứ 17, vì chiến tranh trong cuộc “Nam Bắc phân tranh”, dân ở phía Bắc bèn bỏ vào vùng Mô Xoài và Lộc Dã (Biên Hòa- Đồng Nai ngày nay) để làm lụng sinh nhai. Tuy nhiên, họ thường bị người Chân Lạp quấy phá. ..Để bảo vệ dân gian của mình, chúa Nguyễn, lại dùng “Mỹ nhân kế” một lần nữa, gã Ngọc Vạn công chúa cho vua Chân Lạp. Tiếc rằng, việc hy sinh của “gái thuyền quyên” này không thấy sách sử hay một câu ca dao nào như trong câu chuyện công chúa Huyền Trân.
......
Hải Vân là một chặng đường Nam Tiến. Cù Mông là một chặng đường Nam tiến khác. Ở đó có chàng lính mộ giữ gìn biên ải và có người vợ lặn lội đường xa đi tìm thăm chồng: “Tiếng ai trên núi véo von… “.
Cù Mông thuộc tỉnh Bình Định. Đèo Cả (có nghĩa là đèo lớn nhất) ở ngay ranh giới tỉnh Bình Định và Phú Yên.
......
Năm 1470, vua Chiêm là Trà Toàn đem quân đánh phá Hóa châu. Vua Lê Thánh Tôn bèn thân chinh cầm quân dẹp giặc. Quân ta đánh vào cửa Thị Nại (Qui Nhơn) rồi vây thành Đồ Bàn, bắt được vua Chiêm là Trà Toàn.
Bấy giờ vua Thánh Tông muốn cho Chiêm Thành không còn sức quấy phá nước ta nữa, bèn lấy đất Đồ Bàn (Bình Định) sát nhập vào nước ta, lập thêm đạo Quảng Nam, còn phần đất còn lại (gồm Phú Yên-Khánh Hòa-Phan Rang-Phan Thiết ngày nay) thì dùng chính sách chia để trị, phân làm 3 nước nhỏ là Chiêm Thành, Hóa Anh và Nam Phan với 3 ông vua không thuận thảo với nhau. Từ đó, coi như Chiêm Thành bị tiêu diệt, không bao giờ nổi lên được để chống phá nước ta nữa. Ai bảo rằng chính sách thực đân của ông cha chúng ta là không “độc địa”?
.....
Sau chiến công này, vua Thánh Tông lên đèo Cả, viết một bài thơ rồi cho khắc vào núi đá, kể công lao của ông. Núi đá này gọi là Thạch Bi Sơn, nôm na là Núi Đá Bia.
Tiếng ai trên núi véo von?
Đó là Hải Vân, Cù Mông, Đèo Cả, những chặng đường Nam tiến…
.....
Cũng lại có một nàng công chúa về làm dâu Bình Định:
Gió đưa mười tám lá xoài,

Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.
..... ..
Xoài Bình Định nổi tiếng ngon. Lấy chồng Bình Định là trường hợp Ngọc Hân công chúa lấy Nguyễn Huệ, ông quê ở Bình Định. Nhưng tại sao “mười tám lá xoài”. Cô gái ấy lấy chồng khi mười tám tuổi chăng? Nhưng Ngọc Hân công chúa lấy Nguyễn Huệ khi bà mới mười sáu tuổi.
......
Cũng về phía Nam, cuộc đời chiến binh đưa tôi đi nhiều nơi. Nghiệm với “Hương Rừng Cà Mâu” của Sơn Nam, tôi cũng tìm ra vài điều tương ứng với sách. Khi “Gia Long tẩu quốc” -có nghĩa là ông bị Nguyễn Huệ đuổi riết phải chạy trốn sang Xiêm la (Thái lan ngày nay). Ông để lại nhiều lính tráng và cả “cung tần mỹ nữ” không kịp theo ông. Những người này không dám về quê cũ ở ngoài kia nữa (Thuận Hóa- Quảng Nam) vì sợ nhà Tây Sơn bắt tội. Họ đã định cư ở vùng đất mới. Rồi ngược lại, khi “Gia Long thống nhất sơn hà” thì những người dân Bình Định từng theo Tây Sơn đành trốn lại miền Tây Nam bộ. (Có nghĩa là những đối thủ cũ đã “hòa hợp hòa giải” khi họ không còn quyền lực, không còn vũ khí, không còn chủ nghĩa (theo Nguyễn Ánh hay Nguyễn Huệ). Họ chỉ còn là những người dân bình thường. Có biết như thế mới hiểu được câu ca dao:
Rồng chầu ngoài Huế,
Ngựa tế Đồng nai.
Nước sông xanh sao lại chảy hoài,
Thương người xa xứ lạc loài đến đây.
.....
Nhà Nguyễn đã lên ngôi (Rồng chầu ngoài Huế). Việc cai trị đã ổn định ở Miền Nam (Ngựa tế Đồng Nai). Người lính Tây Sơn vốn đã lăn lộn nhiều nơi, nay cũng không dám trở về quê cũ (Bình Định) như dòng nước xanh vẫn trôi mãi không ngừng, trở thành kẻ xa xứ lạc loài, gây lòng thương cảm cho người khác.
.....
Mấy chục năm trước đây, đọc “Chú Tư Cầu” của Lê Xuyên, tôi thấy có câu ca dao rất hay nhưng chỉ là của dân Nam bộ:
.....
Tàu xúp lê một còn thương còn nhớ.
Tàu xúp lê hai còn đợi còn chờ
Tàu xúp lê ba, tàu ra biển Bắc
Tay vịn song sắt nước mắt chảy ròng ròng.
Đôi ta mới ngộ (1) mà ông Trời không thương.
..
(1) Ngộ là gặp gỡ.
....
Tàu có xúp lê là tàu chạy bằng hơi nước, tàu Tây, là thời kỳ Tây đã đô hộ ta. Tàu ra biển Bắc là tàu đi Tây (Pháp). Xúp lê hồi một: Lòng còn thương nhớ. Xúp lê hồi hai: Còn chờ đợi. Xúp lê hồi ba: Tàu đã đi xa rồi, là vĩnh biệt. Còn chăng chỉ là tay vịn song sắt nhớ về cố hương, nhớ người yêu cũ mà khóc ròng.
.....
Khi tôi bị đổi về miền Tây, có dịp hỏi thăm các cụ già về câu ca dao trên. Họ cho biết đó là câu ca dao tả lòng người niềm Nam đi tham gia đánh Đức bên Pháp hồi thế giới chiến tranh, không rõ là cuộc chiến thứ nhất hay thứ hai.
.....
Ở Trị Thiên có câu hò:Gió đưa cây cải về trời,
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.
......
Trong 10 năm dạy môn Văn Chương Bình Dân cho học trò trung học Đệ nhị cấp (cấp 3 bây giờ), mặc dù tôi có đưa câu ca dao này vào sách giáo khoa của tôi nhưng tôi không hiểu rõ nghĩa lắm. Tôi có hỏi vài người quen ở quê nhưng họ cũng đành chịu. Tôi lại ra đề cho học trò đi sưu tầm nhưng cũng không có kết quả. Tôi hiểu lờ mờ bằng cách đoán chừng rằng ở nhà quê của ta, phía vườn sau, thường là chỗ “ảng nước” có đặt lu nước rữa mặt, chân tay, chủ nhà thường đánh một vồng đất nhỏ để trồng ít rau răm (gần ảng nước cho dễ tưới). Tiết kiệm đất, tới gần tết, người ta “dăm” thêm vào đó ít cây cải để ăn Tết. Hết mùa lạnh, người ta nhổ cải, chừa rau răm lại. Cải chỉ trồng theo mùa (mùa lạnh, hết lạnh cải không được tốt). Rau răm thì có tính “lưu niên”, có thể trồng một lần nhưng để được một năm hay lâu hơn. Có thể ví hai người vợ bé, lẽ mọn một chồng, theo tục đa thê ngày xưa. Một người đã qua đời (Cây cải về trời) nhưng một người còn đó để chịu lời chì chiết của bà vợ cả (chịu lời đắng cay). Có thể là hai con ở (mari Sến), một chị đã mãn mùa (ngày xưa người ta thuê người ở theo mùa, không theo năm như sau này), đã về làng cũ, cũng có thể là đã chết, còn một chị ở lại chịu lời đay nghiến của bà chủ.
Hiểu vậy là sai.
......
Cách đây mấy hôm, khi tôi dịch cuốn “Văn Chương Bình Dân Việtnam” mà tôi đã soạn cách đây bốn mươi năm để dạy học trò, đọc lại cuốn “Thần Thoại Việt Nam” của Nguyển Tử Năng, trong có truyện “Đức Bà An Hải” là truyện nói tới bà Răm và con là cậu Cải và câu ca dao Răm Cải ở trên, tôi mừng hết sức, như bắt được vàng. Một câu ca dao đeo đẵng tôi gần nửa thế kỷ, nay mới hiểu hết ý nghĩa của nó, không mừng sao được.
Truyện kể rằng:
......
Đời Hiển Tông nhà Lê, Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi vào Nam, rồi chạy ra Côn Đảo (Pulau Condor). Bấy giờ Nguyễn Ánh thua thất điên bát đão nhiều trận, thế cùng lực tận. Ông bèn nói với giám mục Bá Đa Lộc (Pignau De Behaine) đem con trai của ông là Hội An, tên tục là Cải, về Pháp để xin viện binh (Việc này xảy ra trước việc Hoàng tử Cảnh). Mẹ của Hội An (tức Cải) là bà Phi Yến, tên tục là Răm mới can rằng:
- “Việc đánh nhau với Tây Sơn là việc trong nhà, nên dấy nghĩa binh mà chống lại. Rước người ngoại quốc (Việt Cọng gọi là người nước ngoài) vào có thể gây hậu họa, sau nữa dân chúng chê cười.”
Nguyễn Ánh không những không nghe, còn nổi giận đùng đùng, cho rằng Phi Yến tư thông với giặc, ra lệnh chém. Quan quyền xông lại can, Nguyễn Ánh mới cho đem giam bà Phi Yến vào hang đá, chờ hậu xét. Khi bị đem đi giam, bà Phi Yến chỉ đem theo ít bánh, đủ ăn trong mười ngày (cũng giống như đi cải tạo, đem theo lương thực 10 ngày!!!) và một con vượn trắng làm bạn.
Ít bữa sau, quân Tây Sơn đánh tới. Nguyễn Ánh vực gia quyến và một ít tàn binh lên thuyền tính chạy ra Phú Quốc. Khi lên ghe, cậu Hội An đòi đem mẹ theo cho được, không thì cho cậu ở lại với mẹ. Nguyễn Ánh giận lắm, cho là giống phản phúc, cũng theo mẹ mà tư thông với giặc thôi, bèn ném cậu xuống biển, nói:
- “Mày muốn theo mẹ mày thì tao cho theo.”
Cậu Hội An chết đưối. May nhờ có con cọp đen mà cậu nuôi từ nhỏ, nhảy theo cậu xuống biển rồi lôi xác cậu vào bờ, moi đất mà chôn. Dân làng biết, bèn đến đắp mộ tử tế.
Do vậy mới có câu ca dao:Gió đưa cây Cải về trời,
Rau Răm ở lại chịu lời đắng cay.
..
Cậu Cải (Hội An) chết sớm, mẹ cậu là Răm (tức bà Phi Yến) còn sống. Còn lời đắng cay thì do đâu mà ra? Sách của NTN cũng viết là “lời”. Có thể đó là “Đời” mà không phải là “Lời” chăng? Chịu đời đắng cay là đời cô quạnh, con chết, chồng bỏ đó chăng? Người đàn bà có hai nỗi khổ lớn nhất trong đời họ: Một là con chết, hai là chồng bỏ. Bà Phi Yến gặp cả hai cảnh ngộ khổ đau này, không phải là “Đời đắng cay” đó sao? Còn “lời đắng cay” là lời trách mắng, chì chiết, chê bai… thì đâu có ai nói điều đó với bà Phi Yến đâu?
....
Chuyện kể tiếp rằng:
Một hôm cọp đi lang thang gặp vượn đi hái trái cây về cho bà Phi Yến, bèn nhận ra nhau là “bạn” (vì được nuôi cùng một nhà từ nhỏ). Vượn đưa cọp về hang. Cọp lấy lưng mà đẩy tảng đá che cửa hang lại rồi cả ba về làng.
Một hôm, làng An Hải mở hội, bèn mời bà Phi Yến đến dự. Lúc đó bà mới 23 tuổi. Một tên vô lại họ Biện, thấy bà đẹp bèn đến nắm tay bà. Làng bắt tội nó, phải đòn. Riêng bà Phi Yến, theo tục lệ xưa, có chồng mà để cho người lạ nắm tay cũng là thất tiết với chồng nên bà cắn lưỡi tự tử. Dân làng chôn cất tử tế và xây đền thờ cả hai mẹ con.
Người ta đồn là hai mẹ con bà hiển thánh, thường hay cứu độ dân làng. Những đêm mưa to gió lớn, họ nghe vọng từ trên trời xuống tiếng hai mẹ con khóc than vì số phận đắng cay của họ.
......
Sau khi Pháp cai trị nước ta, chúng cho xây một nhà tù thật lớn ở Côn Đảo (Việt cọng gọi là traị cải tạo, không gọi là nhà tù). Đinh quang Giáo, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân là những người làm cách mạng chống Pháp, bị tù đầu tiên giam ở nhà tù nổi tiếng này, coi như là “tù trưởng”.
Đinh Quang Giáo đóng bè vượt ngục. Giữa biển, sóng đánh rơi mất lu nước ngọt ông mang theo, cơ hồ chết khát. Nghe danh Đức Bà An Hải (danh xưng dân làng An Hải gọi bà Phi Yến) linh thiêng, ông liền khấn nguyện. Chỉ một lúc sau, trời mưa xuống. Ông hứng được nước ngọt mà thoát chết. Đinh Quang Giáo được thuyền buôn của người Tàu chạy đường Hongkong-Singapor cứu thoát, đưa về Tàu. Sau ông đổi tên là Hiếu Văn, tốt nghiệp trường võ bị Hoàng Phố, đóng lon “Trung Tá” và tử trận khi ông đêm quân tấn công quân đội của Trương Tác Lâm ở Hoa Bắc.
Bà Phi Yến quê ở đâu? Không có sách nào nói tới.
.......
Trong nam, tôi đi đã nhiều, từ Long An, Gò Công về tới Hà Tiên, Rạch giá, Cà Mâu, v.v… Người miền Nam không có tục đặt “ảng nước” trồng rau răm và cải chung một luống như ở miền Trung hay miền Bắc. Ở phía ngoài, dân đông, đất ít, tiết kiệm đất mới phải trồng chung rau răm và cải một luống như vậy.
Sau khi Thái Thượng Vương và Tân Chính Vương bị nhà Tây Sơn giết, anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ rút về Trung thì Nguyễn Phúc Ánh (Nguyễn Ánh) mới hội binh với Đỗ Thành Nhân, Tống Phước Khuông, Lê Văn Câu v,v… lấy lại Saicôn (Saigon bây giờ). Đó là năm 1778, Nguyễn Ánh mới 17 tuổi. Ba năm trước, 1775, khi Nguyễn Nhạc khởi binh chống chúa Nguyễn, chiếm Qui Nhơn rồi Quảng Nam, Nguyễn Ánh theo gia đình chạy vào nam, mới 15 tuổi, có lẽ lúc ấy ông chưa có vợ. Chắc là ông lấy bà Phi Yến lúc sau này, khi ông chạy vào đất Gia định rồi.
.....
Cách đặt tên nôm na theo các sự vật gần gủi là một tục lệ xưa của người Việt Nam: Thằng Tre, Con Măng, Ỗi, Xoài, Ruộng, Lúa, Mạ, v.v… Bà Răm (Phi Yến) cậu Cải (Hội An) cũng được đặt tên theo thói tục đó, không kể là người Nam hay người Bắc. Chỉ khi làm bà vương bà tướng thì mới đổi là Phi Yến (Chim yến đang bay) nghe cho hay. Không lý có bà Chúa Răm? Đó cũng là thường tình, thiên hạ thiếu chi! Tuy nhiên bà Răm cũng là người hay chữ, có nghĩa là bà con nhà quan (không chắc là nhà giàu vì ngày xưa nhà giàu chưa chắc đã hay chữ). Khi con chết, chồng bỏ, bà có làm bài thơ oán than cho số mệnh như sau:
.......
Đốt nén hương thề lạy hóa công,
Vì can mắc tội tiếng thông đồng.
Ngai vàng một thuở ngồi chưa vững,
Hang đá nghìn năm lệ nhỏ hồng.
Máu chảy ruột mềm đau phận thiếp,
Nồi da xáo thịt thỏa tình ông.
Sầu sông thảm núi hờn hoa cỏ
Con hỡi hồn con, chồng hỡi chồng.
 ..
Nhưng tên thành phố Hội An thì đã có từ lâu, thời “Nam Bắc phân tranh”, sau khi Chúa Nguyễn cai trị và mở mang vùng Quảng Nam (Phía nam nói chung, không riêng gì tỉnh Quảng Nam bây giờ). Đằng Ngoài thì có Phố Hiến (Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến), Đằng trong thì có Hội An. Faifo chỉ là tên thời thực dân sau này.
Khi đặt tên cho cậu Cải là Hội An, có nghĩa là “hoài cố hương” đó chăng? Tên đó do Nguyễn Ánh hay bà Răm đặt cho con? Không biết được!
Vấn đề tuy còn mơ hồ nhưng cứ căn cứ vào những ý vừa trình bày, có lẽ bà Phi Yến không phải là dân… Nam bộ.
.....
Hiểu ca dao như tôi nói ở trên không hẵn là đúng. Xin nhờ các vị nào hiểu thâm sâu hơn, hay chính là người nơi câu ca dao xuất xứ, xin cho lãnh hội.
Bài này tôi viết ra cũng để tạ ơn học giả Thái Văn Kiểm. Năm 1958, tôi có đọc một bài của học giả đăng trên tờ Phụng Sự, giới thiệu chặng đường Nam tiến của dân tộc ta có liên quan đến ca dao. Bài viết của học giả hồi ấy đã gợi hứng cho tôi thực hiện một cuộc hành trình vào ca dao kể từ khi đó cho tới bây giờ.
....
Tuệ Chương Hoàng Long Hải.
..
(sưu tầm).....

Saturday, April 3, 2010

thơ Lữ Quỳnh 1

Xin giới thiệu tập thơ SINH NHẬT CỦA MỘT NGƯỜI KHÔNG CÒN TRẺ của nhà thơ Lữ Quỳnh, xuất bản tại Cali, năm 2009
.
Nhà thơ Lữ Quỳnh tên thật là Phan Ngô, cựu học sinh QH (1959 -1962), phu quân của bạn Trần Kim Nhung (ĐK67, B6, C2)
.
.......
..
(Bìa trước tập thơ)
.
Lữ Quỳnh là một nhà văn từ trước 1975, đã xuất bản những tác phẩm (NXB Ý Thức, Sài Gòn) như Cát Vàng (1971), Sông sương mù (1973), Vườn Trái Đắng (1974), Những cơn mưa mùa đông (Nam Giao, Saì Gòn,1974), và năm ngoái cho in Sinh nhật của một người không còn trẻ (Văn Mới, Cali, 2009).....
.
.
SINH NHẬT CỦA MỘT NGƯỜI KHÔNG CÒN TRẺ
.
Sinh nhật tôi
Một ngày tháng chạp
Những ngọn nến thắp
Là hồi ức buồn
.
Lữ Quỳnh
.
.
TỪ EM THIẾU PHỤ
.
Em vẫn đi về
Dòng sông ký ức
Vầng trăng đại vực
In bóng thuyền tôi

Tóc em mây trôi
Trên sông áo lụa
Thuyền trôi hạt lúa
Vàng lung linh vàng

Một chuyến đò ngang
Sông xưa mất ngủ
Từ em thiếu phụ
Lúa vàng thôi trôi

Từ em thiếu phụ
Tóc rối vành nôi
Hồn xanh bóng phủ
U uẩn lời ru

Sông em sóng nổi
Hạt lúa thuyền tôi
Vàng không bến đậu
Mù sa bãi bồi.
.
Lữ Quỳnh (2001).
.
SINH NHẬT TRẮNG
...
Tặng sinh nhật em
Một cành huệ trắng
Hoa trắng tay em
Trắng con đường nhỏ
Mỗi đêm anh về
.
Mừng sinh nhật em
Hai cành huệ trắng
Hoa trắng tay anh
Nồng nàn hương tóc
Nghe đời biển xanh
.
Mừng sinh nhật em
Ba cành huệ trắng
Hàm tiếu môi em
Nở từng đốm sáng
Giữa vòng tay đêm..
.
Mừng sinh nhật em
Bốn cành huệ trắng
Bốn bờ môi thơm
Trời khuya bảng lảng
Lơ lửng vầng trăng
.
Tặng sinh nhật em
Trắng hoa đầy tuổi
Buồn anh vời vợi
Một trời sao đêm
Một tình anh mỏi

.
Lữ Quỳnh

Friday, March 26, 2010

Chuyện tình Màu Tím Hoa Sim

..

...
CHUYỆN TÌNH MÀU TÍM HOA SIM
..
(DO CHÍNH NHÀ THƠ HỮU LOAN VIẾT).
...
Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung, tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938, lúc đó cũng đã 22 tuổi, tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn, Đỗ Thiện và… Tôi
..
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.
..
Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi – mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ”. Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằng sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu ấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn; những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt…..
...
Có lần tôi kể chuyện “bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền em nằm lì trong buồn trong, không chịu học hành… Một hôm, bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu”. Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi…
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em. Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:
- Thầy có thích ăn sim không ?Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ… Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những qủa sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.
...
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: “Ngọt quá.”Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì… tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!
...
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng, em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi… Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó… Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa…
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ…
..
Chín năm sau, tôi trở lại nhà, về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp.
…
Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ, vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm “soạn kịch bản”.Một tuần sau đó, chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: “yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, làm thơ hay… lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!
...
Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, Em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ giờ em không còn cô bé Ninh nữa, mà là người bạn đời yêu qúy của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại… Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mát thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.
..
Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi nỗi đau không gì bù đắp nổi.
..
Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sau thẳm trong trái tim tôi. 
Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn… Dường như càng kèm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh
...
Tôi về không gặp nàng…..Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa. Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim...
..
Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.
...
Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay, nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu:
Chiều hành quân, qua những đồi sim
Những đồi sim, những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt
Và chiều hoang tím có chiều hoang biếc
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.
..
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi “hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
..
Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút cam tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn. Làm thơ phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng… Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông… Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?
..
Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi… Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.
Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
..
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954- 1955.
Lúc đó còn là chính trị viên của tiểu đoàn, tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn, nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó, cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.
Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ, nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.
Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.
Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.
Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no… Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái- và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!
....
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ. Thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm ra nhập làm gì.Năm 1988, tôi “tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Vitek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo, đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán ./.
....
Hữu Loan.

(sưu tầm)