Saturday, March 17, 2012

Bạch Vân Cư Sĩ

Xin giới thiệu bài viết của Thầy Hà Thúc Hoan.
Xem như đây là bài Giảng Văn bổ túc thầy gởi cho các học trò cũ Đồng Khánh 67 (vì ngày xưa Thầy chưa kịp dạy thì hết giờ...)



.
HẠNH PHÚC VÀ MÙA XUÂN CỦA BẠCH VÂN CƯ SĨ
...
Trong tập san Văn hoá Phật giáo số 95, ra ngày 15.12.09, tác giả NguyễnThế Đăng đã mở đầu bài viết Tản mạn về tiếng Việt bằng cách trích dẫn bài thơ vịnh cảnh nhàn của Bạch Vân cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm:
...
“Một mai một cuốc một cần câu,
Thơ thẩn dù ai vui thú nào.
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao.
Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.” (1)
..
Ở bài báo nói trên, NguyễnThế Đăng chỉ mượn thơ nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm để dẫn người đọc vào bài nghị luận trình bày những kiến thức khái quát về “Phép lạ của ngôn ngữ”. Ở đây, chúng tôi phân tích tác phẩm này để tìm hiểu Hạnh phúc và mùa xuân của Bạch Vân cư sĩ.

Bạch Vân cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm ( 1491 – 1585 ) từ thời thơ ấu đã được mẹ là con gái Hộ bộ Thượng thư họ Nhữ và cha là Thái học sinh Nguyễn Văn Định giáo huấn, sau đó theo học với danh nho đương thời là Bảng nhỡn Lương Đắc Bằng. Lớn lên, gặp buổi Lê suy, chính sự đổ nát, Nguyễn Bỉnh Khiêm không đi thi, chỉ ngồi nhà đọc sách và dạy học. Mãi đến năm 44 tuổi, dưới triều Mạc Đăng Doanh, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới lai kinh ứng thí và đậu Giải nguyên, năm sau dự kỳ thi hội và đỗ Trạng nguyên. Được vua nhà Mạc trọng dụng, làm quan đến chức Lại bộ Tả thị lang, dâng sớ xin trị tội 18 lộng thần mà vua không nghe, Nguyễn Bỉnh Khiêm xin về trí sĩ sau 8 năm tham dự việc triều chính. Có một lần vua Mạc Phúc Hải khẩn khoản vời Nguyễn Bỉnh Khiêm hồi triều với chức Công bộ Thượng thư, song ông lại xin về ngay để vui sống với cảnh nhàn cho đến lúc mất vào năm 95 tuổi.
.....
Tóm lược tiểu sử tác giả như trên chúng ta mới hiểu hết ý nghĩa của hai câu đề. Quan nhất phẩm triều đình hồi hưu mà không ở trong nhà cao cửa rộng để gia nhân hầu hạ (2), đến khi xuất hiện trên trang thơ thì không thấy mặc áo gấm hay đeo bài ngà Thượng thư. Thật là ngạc nhiên đến thích thú khi chúng ta nhìn thấy ở đây hình ảnh một Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm bình dị với nhiều dụng cụ lao động :
“Một mai một cuốc một cần câu,
Thơ thẩn dù ai vui thú nào.”
....
Thế mới biết ở vị đại thần đã hưu trí này, ở nhà trí thức lỗi lạc của thế kỷ XVI này, không hề có sự phân chia giàu với nghèo, quan với dân, lao động chân tay và lao động trí óc. Qua đó chúng ta được biết tuy sống với cảnh nhàn nhưng “người học trò già” (3) Nguyễn Bỉnh Khiêm không quên lao tác như một lão nông hay một ngư ông. Tuy nhiên, điểm khác biệt ở đây là nhà thơ nhàn không lao động cần cù, vất vả như một ngư phủ hay nông dân thứ thiệt. Nhà thi sĩ chỉ “thơ thẩn” … Từ láy điệp phụ âm đầu “thơ thẩn” này, chúng ta không nên hiểu theo nghĩa luân lý mà chỉ nên hiểu theo nghĩa triết lý. “Thơ thẩn” là không gấp gáp bước chân, đã thôi rong ruổi kiếm tìm. “Thơ thẩn” là thong dong cất những bước chân an lạc và thảnh thơi, “vì đã về, đã tới, bây giờ và ở đây”…
....
Sau Nguyễn Bỉnh Khiêm ba thế kỷ, Giải nguyên Nguyễn Công Trứ dùng cách chiết tự để định nghĩa “nhàn” là tĩnh, trái với “náo” có nghĩa là động (4). Viết hai câu thực, Nguyễn Bỉnh Khiêm diễn tả tự nhiên, dung dị chủ đề cảnh nhàn với ý nghĩa vừa nêu :
“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn người đến chốn lao xao.”
....
“Nơi vắng vẻ” là cảnh nhàn thanh tĩnh, vô vi. Đó là thiên nhiên với cây cỏ tươi xanh, thôn xóm hiền hoà, ruộng đồng quang đãng mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng sống gắn bó từ khi còn thơ ấu cho đến năm 45 tuổi. Đó là Bạch Vân am, nơi nhà hiền triết quy ẩn từ năm 53 tuổi để sống bình dị, thanh cao cho đến cuối đời. “Chốn lao xao” là chỗ ồn ào, náo nhiệt. Đó là cuộc trần ai vinh liền nhục, khóc lẫn cười. Đó là chốn triều đình với nhiều phép tắc, lễ nghi ràng buộc mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạm dung thân trong 8 năm, sau đó nhà thi sĩ – đạo sĩ đã cáo quan về hưu để lại trường danh lợi cho 18 lộng thần tranh giành tiền tài và chức vị.
......
Dưới con mắt của phần đông người đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm bị cho là “dại” vì đã từ bỏ quyền cao chức trọng cùng với bổng lộc hậu hĩ của nhà Mạc để trở về làng quê sống cuộc đời dân dã, thanh bạch. Cái “dại” này cũng có chỗ tương đồng với cái “dại’ của Phật hoàng Trần NhânTôn khi từ bỏ ngai vàng như ném một chiếc giày rách để lên núi Yên tử sống đời đạo hạnh của bậc chân tu. Như Tĩnh giới Thiền sư đời Lý đã “Kham tiếu thiền gia si độn khách”, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhờ biết “Ngu dại chan chan tính đã quen” (6) nên đã tìm thấy hạnh phúc chân thật. Những ai suốt đời chỉ biết chạy theo tiền tài và địa vị để đốt cháy đời mình bằng lửa dục vọng như con thiêu thân tự huỷ diệt bằng cách lao vào ngọn lửa đỏ, những ai đó sẽ không thể nào hiểu được hạnh phúc của những xuất trần thượng sĩ đã chấp nhận cái “dại” hiền triết này.
..
Bạch Vân cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã trao truyền cho hậu thế nghệ thuật sống để hưởng nhàn, để có hạnh phúc chân thật qua hai câu luận có hình thức giản dị mà nội dung hàm ẩn ý nghĩa sâu sắc như một công án của thiền gia :
“Thu ăn măng trúc đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao.”
....
Vào mùa thu, cây tre non sinh trưởng, Nguyễn Bỉnh Khiêm “ăn măng trúc” vừa ngon miệng vừa yên lòng vì thức ăn có nhiều chất xơ này dễ kiếm và có lợi cho sự tiêu hoá của người già. Sang đông măng không mọc nữa thì nhà thơ nhàn “ăn giá” cũng là thứ thực phẩm tươi non, nhiều dưỡng chất và dễ tìm mua như măng trúc trước đây. Thu mát, đông lạnh nên nhà hiền triết quan tâm việc ẩm thực để thân thể có đủ nhiệt lượng. Đến mùa xuân khí trời đã ấm áp, vào mùa hạ thời tiết quá nóng bức, cho nên thú vui của nhà thi sĩ – đạo sĩ chuyển đổi từ ăn ngon sang tắm mát. Mùa xuân, Nguyễn Binh Khiêm cảm thấy hạnh phúc khi được tắm mát trong hồ sen trong xanh và sâu rộng. Sang mùa hạ mà vẫn còn xuống “tắm hồ sen” để thoả sức vẫy vùng thì người ta phải chịu khổ đau vì bị gai của cây sen làm cho xây xát, ngứa ngáy. Cho nên, để làm dịu cái nóng bức của mùa hè, Cụ Trạng Trình thảnh thơi, vui thú với làn nước mát của ao nhà.
..
Nghị luận về hạnh phúc, các thầy giáo, cô giáo thường yêu cầu học sinh định nghĩa hạnh phúc mà không biết rằng định nghĩa không khéo thì người ta có thể bắt đầu mất hạnh phúc. Khi một sinh viên khẳng định hạnh phúc của đời tôi là có được cái bằng Tiến sĩ thì ta biết ngay từ phút ấy người bạn trẻ không có hạnh phúc vì chưa có bằng Tiến sĩ. Miệt mài học tập, viết luận án và tổ chức bảo vệ luận án là những việc làm hao tâm tổn trí mà khi có học vị Tiến sĩ rồi không có nghĩa là hạnh phúc đã tìm thấy ! Cho nên người trí không tự ràng buộc vào một khái niệm về hạnh phúc mà biết tổ chức cuộc sống một cách khôn ngoan, linh hoạt và thích ứng như Nguyễn Bỉnh Khiêm để có hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh. Đó chính là triết lý sống tùy duyên đã được Phật hoàng Trần Nhân Tôn thể hiện trong “Cư trần lạc đạo phú”:
“Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên,
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.”
.....
Cao Bá Quát, một nho thần có tư tưởng tiến bộ và ý thức phản kháng đời Nguyễn, đã vẽ nên bức tranh thảm hại của lớp người áo mũ xênh xang với quyền cao chức trọng ở triều đình:
“Mũ cành chuồn đội trên mái tóc, nghiêng mình đứng chực cửa hầu môn;
Áo giới lân trùm dưới cơ phu, mỏi gối quỳ mòn sân tướng phủ.” 
.....
Nhìn thấy hoạt cảnh nhục nhã của bọn tham quan ô lại chỉ giỏi việc nịnh bợ, lòn cúi để cầu danh lợi, chúng ta hiểu rõ hơn phẩm cách thanh cao, phong thái ung dung, cuộc sống tự do và hạnh phúc của nhà hiền triết Nguyễn Bỉnh Khiêm khi đã biết từ bỏ “chốn lao xao” để trở về “nơi vắng vẻ”. Ở đó, nhà hiền triết khẽ nâng ly rượu nồng giữa đất trời, nhẹ lòng buông bỏ công danh cùng với những ham muốn vật chất tầm thường, sống giao hoà mật thiết với thiên nhiên cao rộng, trở thành một nốt nhạc trong bản nhã ca vĩ đại của vũ trụ :
“Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”
....
Phần đông người đời nay đang uống bia bằng ly cối, uống rượu bằng chén tống, uống liên tục không kể ngày đêm, uống trong phòng khách của gia đình chưa đủ thì uống tiếp trong phòng lạnh của nhà hàng, giữa những tiếng “dô”, “dô” ồn ào hay trong tiếng nhạc đinh tai nhức óc của cái máy phóng thanh đã được sử dụng với công suất tối đa. Trái lại, thưởng thức một trong bốn lạc thú thanh cao của người xưa là cầm, kỳ, thi, tửu, Nguyễn Bỉnh Khiêm uống rượu với cái ly nhỏ bằng hạt mít, “sẽ nhắp” từng chút hương vị cay nồng, dưới bóng mát của cây xanh là cái máy điều hoà tuyệt hảo của thiên nhiên. Tửu đạo ấy giúp khí huyết người già lưu thông, làm cho tâm trí người lớn tuổi nên sảng khoái, minh mẫn để nhận biết tính mong manh, bèo bọt, phù du của vinh hoa phú quý ở đời. Từ đó nhà thi sĩ – đạo sĩ chọn cách sống vị tha vô ngã, chẳng vì công,chẳng vì danh, chỉ vì người khác và cho người khác. Với lý tưởng sống cao đẹp ấy, trí tuệ, tài năng và đức hạnh của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm bao trùm cả thế kỷ XVI, sáng đẹp mãi trong văn học và lịch sử nước nhà.
......
Chịu ảnh hưởng của tư tưởng và học thuật phương Tây, nhiều tác giả Việt Nam cận và hiện đại đã nghĩ rằng người ta chỉ tìm thấy sức sống trong mùa xuân và hạnh phúc khi còn tuổi trẻ. Hậu quả của nhận thức thiếu khôn ngoan này là ngay khi còn có tuổi trẻ và mùa xuân, người ta cũng không được sống hạnh phúc trọn vẹn, vì lo sợ tuổi xuân qua mau và cảnh già nua lụ khụ sẽ đến :
“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.”
 (10)
..
Triết gia phương đông không quan niệm hạnh phúc chỉ có trong mùa xuân và với tuổi trẻ. Sống có đạo đức để lòng thanh thản, sống tuỳ duyên để tâm được an vui, với cuộc đời sáng đẹp như một áng mây trắng trên trời xanh, ở đâu Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng tìm thấy hạnh phúc và với lứa tuổi nào Bạch Vân cư sĩ cũng có mùa xuân:
“Lòng thử hỏi lòng không hổ thẹn,
Đến đâu thì cũng có xuân phong”
“Chín mươi thì kể xuân đà muộn,
Xuân ấy qua thì xuân khác còn.” 


Hà Thúc Hoan.....

.N T (B5, C2)

Saturday, March 3, 2012

Thu Lê: Thu vắng Anh

Thơ Đoàn Thu-Lê (ĐK 67)
.
..
.
...........
THU VẮNG ANH
..
Không có anh trời chiều buồn tẻ
Ráng mây hồng hụt hẩn chơi vơi
Mái tóc dài không người vuốt nhẹ
Vòng tay nào hờ hững buông lơi
Lá vàng rơi đường về quên lối
Hè phố xưa vắng tiếng chân quen
Một mình đi vào trong bóng tối
Nghe thênh thang với nổi buồn tênh
Trời trở lạnh thu về hiu hắt
Nhỏ giọt buồn theo tiếng chuông ngân
Chân trời xa mang màu tím ngắt
Cành hoa buồn gợi nhớ ái ân
Hàng cây gầy buông lời giả biệt
Trăng sao mờ mang kiếp cô liêu
Chuỗi ngày qua một mình đơn chiếc
Mùa thu này vắng bóng người yêu.
..
Thu-Lê
.
THU SẦU
Tiếng hát: Ngọc Hạ..
..

Quang Dũng: nhà thơ tài hoa lãng mạn

Nhà Thơ Quang Dũng, 
Thi sĩ Tài Hoa Lãng Mạn.
....
.
Nhà thơ Quang Dũng thời Tây tiến
(Nguồn hình: Internet)
..
..
TIỂU SỬ NHÀ THƠ QUANG DŨNG (1921-1988)
..
Nhà thơ tiền bối Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm, sinh tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng tỉnh Sơn Tây (nay thuộc ngoại thành Hà Nội). Sau khi học Trường sư phạm tại Hà Nội, ông làm nhạc công gánh hát rong và làm gia sư tại Hà Nội. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp ông chiến đấu trên hai mặt trận: vừa là người cầm bút nhưng cũng vừa là người cầm súng chiến đấu.
Ông đã viết rất nhiều truyện ngắn xuất bản và viết kịch, cũng như đã triển lãm tranh sơn dầu cùng với các họa sĩ nổi danh. Ông sáng tác nhạc, bài Ba Vì của ông đã nổi tiếng ở trong khu kháng chiến.
Ông bị gửi đi chỉnh huấn sau vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, và lui về ẩn thân trong nghèo nàn và bệnh tật. Thơ của ông bị phê bình trên báo chí miền Bắc lúc đó là mang hơi hướng “tiểu tư sản”, thiếu tính chiến đấu, còn ở miền Nam thì được xuất bản và phổ biến rộng rãi.
Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1988 tại Hà Nội.

Những bài thơ nổi tiếng của Ông:
  • Đôi bờ
  • Đôi Mắt người Sơn Tây
  • Quán bên đường
  • Tây Tiến...v..v...
..
KHÔNG ĐỀ
..
Em mãi là hai mươi tuổi,
Ta mãi là mùa xanh xưa,
Những cây ổi thơm ngày ấy,
Và vườn hoa ngâu mưa thu,
Tóc anh đã thành mây trắng,
Mắt em dáng thời gian qua,
                    
Ngày nay,
Chuyện đẹp đi qua,
Còn lại đôi ta,
Thời gian gấp ruổi,
Em mãi là hai mươi tuổi,
Ta mãi là mùa xanh xưa,
Giữ trọn tình người cho đẹp.

Ôi con đường xưa.
Mấy mùa trút lá,
Cánh bàng mồ côi,
Cổng cũ rêu phong,
Ý đợi người…

Ôi con đường xưa,
Men vườn ổi thơm,
Em tuổi hai mươi,
Yêu anh hào hiệp…

Bỏ em anh đi,
Đường hai mươi năm,
Dài bao chia ly…

Có những vợ chồng,
Không là trăm năm,
Mà tình thương yêu,

Sông ơi dài sao,
rộng ơi biển cả ,

Thôi em nước mắt
Đừng rơi lả chả,

Em mãi là hai mươi tuổi,
Ta mãi là mùa xanh xưa,
Giữ trọn tình người cho đẹp… (*)

Quang Dũng, 1970 
.......
(*) Bài thơ này nhà thơ Quang Dũng viết cho người yêu cũ được bạn bè gọi là cô gái vườn ổi sau khi đến thăm lại người tình xưa sau 20 năm xa cách.
..
(st)

Friday, February 24, 2012

Con đường thế hệ

(Hình: Internet)
...
CON ĐƯỜNG THẾ HỆ
..
thơ Trần Trung Đạo
.
Anh vẫn nhớ những con đường quê cũ
Cong theo chiều của tổ quốc yêu thương
Nghìn sao lạ sáng soi bờ liễu rũ
Thời hoa niên theo giấc mộng vô thường
.
Còn ở đó một quê nghèo nắng bỏng
Vết chân mòn trên những cánh đồng khô
Chiều viễn xứ anh ngồi nghe tiếng sóng
Đời mười năm chưa hết nợ giang hồ
.
Anh muốn hát bài ngợi ca đất nước
Sao ý tình như lạc chốn xa khơi
Đôi tay nhỏ, một tâm hồn tập bước
Làm sao anh ôm hết mộng trên đời
.
Thơ anh đấy vẫn sẽ buồn như thế
Vẫn một màu sương khói giữa chiều lam
Thơ anh viết cho cuộc đời dâu bể
Cho niềm đau chất chứa ở trong lòng
.
Anh mơ viết ngàn lời thơ tuyệt đẹp
Cho bạn bè cho tổ quốc Việt Nam
Gởi qua đấy một tấm lòng sắt thép
Trong như gương và thắm tựa hoa hồng
.
Anh đã nguyện đi trên đường thế hệ
Sẽ không buồn vì có các em theo
Đi đi nhé chẳng bao giờ quá trễ
Để muôn đời lịch sử tiếng thông reo.
..
Trần Trung Đạo
.
(nguồn: trantrungdao.com)
.
.....
....

Quán "Không"

.....(nguồn: Internet)
Quán "Không"
..
(Bạch Lan sưu tầm)
.....
Một vị thương gia lập nghiệp từ tay trắng, sau kiếm được rất nhiều tiền nhưng vì buôn bán trong thời kinh tế không ổn định, khiến anh ta trở nên phá sản, nợ nần chồng chất. Nghĩ mãi không tìm ra cách giải quyết, anh ta bèn ra bờ sông tự tử.
Vào lúc canh ba một đêm nọ, anh ta đến trước bờ sông, bỗng nhiên nhìn thấy một thiếu nữ đang ngồi khóc thảm thiết, anh bèn đến hỏi cô gái:
- Có chuyện gì mà đêm hôm khuya khoắt cô ngồi khóc một mình ở đây?
Cô gái buồn bã nói:
- Tôi bị người yêu ruồng bỏ, tôi không muốn sống nữa, bởi vì không có anh ấy tôi không sống nỗi.
Vị thương gia vừa nghe xong lập tức nói:
- Ồ! Lạ nhĩ, sao lúc chưa có bạn trai, cô có thể tự sống được.
Cô gái vừa nghe xong liền bừng tỉnh và bỏ ngay ý định tự tử.
Ngay lúc đó vị thương gia nọ cũng chợt nhận ra rằng: Khi chưa giàu có ta vẫn sống bình thường, ta cũng tay trắng làm nên mà!
Lúc đó cô gái quay sang hỏi vị thương gia:
- Đêm hôm lạnh lẽo như vậy, anh ra đây để làm gì?
Vị thương gia ậm ừ trả lời:
- Ừ… đâu có làm gì, chỉ là tản bộ chút vậy thôi”.
..
Thì ra, dù đã mất tất cả nhưng thực sự cũng chỉ bằng lúc ta chưa có mà thôi. Đây là một tuệ giác lớn! Phần lớn thế hệ chúng ta từng sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong giai đoạn đất nước đói nghèo, gia sản chỉ gói gọn trong một chiếc ba lô nhưng vẫn yêu đời, tin tưởng vào tương lai tươi sáng thì giờ đây rủi thời dẫu có thất thế sa cơ đến tay trắng cũng chẳng đến nỗi nào, vì trước đây ta có cái gì đâu! Ai thấy được điều này là có trí tuệ. Vì khổ đau, vật vã, thù hận thậm chí quyên sinh khi mất mát xảy ra, xét cho cùng cũng chỉ thiệt cho mình.
..
Nhờ quán không nên người con gái trong câu chuyện trên khi mất người yêu nghĩ rằng không có người yêu thì không sống nổi, chợt thấy rõ rằng trước khi chưa gặp “kẻ phản bội” kia thì ta vẫn sống vui, liền lập tức đổi ý không trầm mình xuống sông nữa. Người thương gia trắng tay cũng đổi ý khi ngộ ra rằng trước đây ta cũng từ tay trắng mà lên. Bây giờ trắng tay nhưng cũng chỉ bằng ngày xưa chứ chưa mất mát tí gì.
Con người sinh ra đời với hai bàn tay trắng và dù thành công hay thất bại thì cũng trở về cát bụi với hai bàn tay không, vậy thì sá gì với được mất, có không, vì vô thường thay đổi vốn là bản chất của cuộc đời này. Chúng ta hãy quán chiếu thật sâu sắc vào sự chuyển biến vô thường của cuộc đời để sống bình thường trước mọi biến động có thể xảy đến với ta bất cứ lúc nào.
..
(Bạch Lan sưu tầm)
.
---------------------------------------------.
....
..
(nguồn: Internet)..
...
Con Đường Thế Hệ
..
thơ Trần Trung Đạo
...
Anh vẫn nhớ những con đường quê cũ
Cong theo chiều của tổ quốc yêu thương
Nghìn sao lạ sáng soi bờ liễu rũ
Thời hoa niên theo giấc mộng vô thường
.
Còn ở đó một quê nghèo nắng bỏng
Vết chân mòn trên những cánh đồng khô
Chiều viễn xứ anh ngồi nghe tiếng sóng
Đời mười năm chưa hết nợ giang hồ
..
Anh muốn hát bài ngợi ca đất nước
Sao ý tình như lạc chốn xa khơi
Đôi tay nhỏ, một tâm hồn tập bước
Làm sao anh ôm hết mộng trên đời
..
Thơ anh đấy vẫn sẽ buồn như thế
Vẫn một màu sương khói giữa chiều lam
Thơ anh viết cho cuộc đời dâu bể
Cho niềm đau chất chứa ở trong lòng
..
Anh mơ viết ngàn lời thơ tuyệt đẹp
Cho bạn bè cho tổ quốc Việt Nam
Gởi qua đấy một tấm lòng sắt thép
Trong như gương và thắm tựa hoa hồng
..
Anh đã nguyện đi trên đường thế hệ
Sẽ không buồn vì có các em theo
Đi đi nhé chẳng bao giờ quá trễ
Để muôn đời lịch sử tiếng thông reo.
..
Trần Trung Đạo
..
(nguồn: trantrungdao.com)


.....(nguồn: Internet)
....

Sunday, February 19, 2012

Xuân muộn

...
...
XUÂN MUỘN
.
Qua cái rét tháng giêng 
Nắng tháng hai len lén về bên cửa 
Mùa xuân từ hôm trước
Còn đọng lại 
Cành đào nở tung trong nắng gió 
Gợi mùa xuân nhè nhẹ mênh mang 
Như đôi mắt mở bừng sau cơn ngủ muộn 
Như má hồng ai e ấp 
Như nụ cười rạng rỡ đến khôn cùng 
Mùa xuân ven đồi 
Mùa xuân hồng tươi hai bên đường phố 
Phơn phớt má hồng đào 
Ô hay xuân ở trên cao 
Rơi rơi theo những cánh đào dễ thương 
..
Tiểu Muội

Friday, February 17, 2012

Áo dài dịu dàng


(nguồn hình: Internet)
..
ÁO DÀI DỊU DÀNG
...
Áo dài ơi dịu dàng
Áo dài ơi xinh quá
Hoa và lá xôn xao
Áo dài trên phố hạ
..
Áo dài nắng nghiêng nghiêng
Tóc dài trông hiền hiền
Nhớ cái thời guốc mộc
Cùng áo dài thêm duyên
..
Áo dài qua xứ xa
Mong manh chiều thu lạnh
Áo choàng ấm vây quanh
Tà áo dài lóng ngóng..
....
Áo dài ơi nhớ lắm
Gió với nắng quê nhà
Tà áo dài phơ phất
Trong chiều mùa xuân qua..
...
thơ Tiểu Muội...
...... .....
ĐỘNG ĐẤT
..
Sáng nghe tin báo về động đất
Người mất, nhà tan, sóng ngút ngàn
Muôn vạn sinh linh, nghìn tang tóc
Cuồng nộ đất trời, nên ngỗn ngang
...
Sáng xem tin báo về động đất
Tôi khóc như là đứa trẻ thơ
Rồi đây bao kẻ không nhà cửa
Bao trẻ con rồi sẽ bơ vơ
....
Sáng đọc, xem tin về động đất
Tan hoang một cõi đất Phù tang
Chợt thấy cuộc đời sao phù phiếm
Qua đêm phút chốc hóa điêu tàn
..
Sáng nay có kẻ vu vơ hát
Cát bụi nghìn năm cát bụi thôi
Chốn đi hay ở rồi cũng vậy
Trơ trọi, long đong một kiếp người..
..
thơ Tiểu Muội
...
...

Tuesday, January 31, 2012

Kỷ niệm làm báo Đồng Khánh

(Bài viết của Thầy HÀ THÚC HOAN, cựu giáo sư trường Đồng Khánh - Huế.)
.
..
.Hình bìa Đặc san Đồng Khánh năm 1967
.
KỶ NIỆM LÀM BÁO ĐỒNG KHÁNH
.
"Kỷ niệm Đồng Khánh nói chung chẳng khác gì những cục than hồng vùi lấp dưới lớp tro tàn trong cái lồng ấp của mùa đông xứ Huế. Mong ước bài viết này là ngọn gió lành đến vào một sớm mai thổi bay lớp bụi, làm bùng lên ngọn lửa sưởi ấm trái tim người."
(Hà Thúc Hoan)
.............
Báo Đồng Khánh nói đến ở đây là Tập văn nữ sinh Đồng Khánh cỡ 20 x 26cm, có phụ trương là bức tranh thiếu nữ của họa sĩ Đinh Cường, bìa ba màu do họa sĩ Tôn Thất Văn vẽ và được in offset ở Sài Gòn, 80 trang trong in typo ở nhà in Sao Mai - Huế. Báo Đồng Khánh là đặc san kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường, ra mắt độc giả vào ngày 15 tháng 5 năm 1967. Năm học 66 – 67, chị Giáng Châu làm hiệu trưởng, tôi đặc trách phân ban báo chí thuộc ban văn nghệ và báo chí do anh Thái Quang Toản làm trưởng ban. Cuối năm 1966, theo sáng kiến của bà hiệu trưởng, tôi làm báo Đồng Khánh trong hơn nửa năm và đã có nhiều kỷ niệm khó phai mờ.
..
1. Trường Đồng Khánh ra báo thì giáo sư đặc trách báo chí tự nhiên trở thành ông chủ bút. Chủ bút của báo chí học đường thường kiêm nhiệm phần hành của thư ký tòa soạn và các biên tập viên, đồng thời phụ trách thêm nhiều tạp vụ như đi lấy quảng cáo, quan hệ với họa sĩ, làm việc với nhà in, mang báo đến các nhà sách để nhờ phát hành rộng rãi, v.v. Năm ấy tôi là một thầy giáo trẻ, độc thân, nên sau những giờ dạy ở trường vẫn còn đủ sức để hoàn thành nhiệm vụ. Làm báo Đồng Khánh, tôi may mắn có đội ngũ cọng tác viên đông đảo là hàng trăm nữ sinh trẻ trung, nhiệt tình và yêu văn chương. Có thể nói nữ sinh Đồng Khánh viết báo là gần như cả thành phố Huế sáng tác văn thơ. Trong số mấy trăm văn bản học sinh nộp cho giáo sư, thế nào cũng có những bài viết đã được các bậc phụ huynh góp ý công phu, và chắc chắn không thiếu những tác phẩm là thành quả sau nhiều ngày đêm lao tâm khổ tứ của các chàng trai đất thần kinh muốn làm vui lòng người đẹp Đồng Khánh .
..
Nếu không nhận được sự giúp đỡ của một số bạn đồng nghiệp thì dù cố gắng hết sức tôi cũng khó mà làm tròn nhiệm vụ. Tôi xin bày tỏ ở đây lòng biết ơn đối với quý thầy cô dạy Việt văn đã hưởng ứng hoạt động của ban báo chí bằng cách khuyến khích học sinh viết bài. Trong số này, chị Thanh Tâm là người tích cực nhất. Chị đã theo dõi bài viết của học sinh lớp mình phụ trách môn Việt văn, rồi trực tiếp góp ý với tôi về giá trị nội dung bài thơ Ước mơ của N.T.T.C ( II A2). Dạy Anh văn, nhưng chị Nguyệt cũng chịu khó đọc bản thảo và giúp tôi nhận ra ý nghĩa của chủ đề tình bạn đã được Phan Ngọc Bích (IV1) thể hiện một cách có nghệ thuật qua truyện ngắn Hoa thương yêu. Bà hiệu trưởng Giáng Châu dù bận rộn nhiều việc cũng dành thì giờ đọc một số bài văn và khen Võ Cẩm Tú (IV4) đã viết truyện ngắn Thanh để ca ngợi nghề dạy học. Tác giả hai đoản thiên này đều được nhận phần thưởng về truyện ngắn.
..
Tôi xin được nhắc lại ở đây sự hỗ trợ tự nguyện, vô tư, công tâm và rất có hiệu quả của anh Hồ Hữu Hạnh. Anh Hạnh theo chuyên ngành Anh văn mà giỏi Việt văn. Anh Hạnh không những khích lệ học sinh tích cực viết báo mà còn giúp tôi chọn bài hay để đăng báo, phát hiện những tác phẩm có giá trị để trao giải thưởng. Dưới sự hướng dẫn của thầy Hạnh, Huỳnh Yến Tuyết (IIIA4) đã hoàn thành bản dịch Dấu ngón tay cái ( của Mark Twain ), Nguyễn Mai Hoa (IIIA4) đã hoàn tất bản dịch Ngọc nữ (của Lâm Ngữ Đường ). Rất tiếc là do số trang báo có giới hạn nên hai dịch phẩm này “phải gác lại vào một dịp khác”! Theo tôi biết, anh Hạnh còn giúp đỡ một học trò giỏi khác viết bài báo có lời và ý rất lạ, bây giờ tôi chỉ còn nhớ mang máng đại ý bài văn nói đến một cái gì đó rất đẹp về thiên nhiên. Nếu anh Hạnh nói ra sự hướng dẫn của mình, hoặc nêu nhận xét về giá trị của bài báo, tôi đã đưa tác phẩm này vào đặc san Đồng Khánh. Nhưng anh Hạnh đã giữ im lặng để dành cho tôi sự tự do và khách quan trong khi chọn lựa, và tôi đã loại bài này vì thấy không phù hợp với chủ đề chung của tờ báo là học đường, tuổi trẻ và tình yêu đất nước. Đến lúc đó, anh Hạnh đọc một vài đoạn, phân tích cái hay của tác phẩm và tôi đã quyết định đăng bài viết ấy. Nhưng cũng vào lúc ấy, anh Hạnh lại không muốn đăng bài này nữa!
..
Đồng Khánh ra báo thì bà hiệu trưởng đương nhiên trở thành bà chủ nhiệm. Bà chủ nhiệm cho ông chủ bút toàn quyền quyết định ngoại trừ một việc là tiêu tiền! Chi tiêu khoản gì, tôi phải gặp thủ quỹ là chị Tường Loan để trình bày và ký nhận chi phí. Nhờ thu chi đúng nguyên tắc tài chánh mà tôi đã yên tâm làm việc, không sợ gặp phải những lời đàm tiếu quanh co về tiền bạc có thể xuất hiện sau này. Công vụ phức tạp, đa đoan ở phòng hiệu trưởng có ảnh hưởng đến sức khỏe vốn không được dồi dào của chị Giáng Châu. Nhưng chị vẫn cố gắng làm việc để đặc san Đồng Khánh được hoàn thành đúng thời hạn. Có một lần, gặp việc cần giải quyết gấp mà sức khỏe của chị không được ổn định, tôi phải đến tư thất bà hiệu trưởng ở gần Đập Đá để làm việc bên giường bệnh. Chị đã hết lòng với tờ báo như vậy mà khi đặc san ra mắt độc giả, tôi không đủ khôn ngoan và tế nhị để mang một số Đồng Khánh còn thơm mùi giấy mực đến phòng hiệu trưởng mừng công và báo công! Lý do là tâm trí tôi lúc ấy đang lo nghĩ kế hoạch phát hành hàng ngàn số báo với giá 30 đồng ở trong trường và 40 đồng ở ngoài trường. Bây giờ, tuy không nhớ rõ số tiền nhà trường cho mượn là bao nhiêu, nhưng tôi nhớ rõ 1500 số báo đã được bán hết trong một thời gian ngắn để trả đủ số nợ mà tôi đã ký nhận ở chị Tường Loan. Kết quả là trường không phải hao tốn một đồng bạc mà vẫn có được một tờ báo in “hoành tráng”, còn giáo sư phụ trách thì không còn giữ riêng cho mình một ít tập báo để tặng ban giám hiệu và bạn đồng nghiệp. Tôi không biết bà chủ nhiệm đã xoay trở cách nào để có một số báo Đồng Khánh mà tặng ngược lại ông chủ bút đúng vào ngày báo phát hành, với lời đề tặng hoa mỹ, khúc chiết mà trân trọng và đầy tình thân ái:
..
“ Anh Hoan,
Năm, bảy năm nữa, khi ‘nhiều nước đã chảy dưới cầu’, Tập san này nhắc nhở Anh những gì? Anh có còn nhớ nỗi niềm ưu tư, từ khi các bài báo còn trong trứng nước, rồi giai đoạn dấn thân đứng mũi chịu sào…, để rồi tác phẩm hoàn thành cũng chưa được giải thoát vì đã ‘trót mang lấy nghiệp vào thân’ chăng? Âu cũng là số phận những ai đã chọn nghề hướng trẻ! Ít dòng viết tặng anh để thay thế bao lời tri ân của nữ sinh đối với vị Trưởng ban báo chí tận tụy và đa cảm.”
..
2. Kết thúc Lời ngỏ của ban báo chí đăng ở cuối tập san, tôi viết câu : “Ước mong Đồng Khánh là một gương mặt mang nhiều gương mặt, là một tâm hồn của những tâm hồn để mọi người đều có thể tìm thấy bóng dáng mình mỗi khi có Đồng Khánh ở trước mắt.” Để thực hiện mong ước ấy, tôi đã tuyển chọn đủ bài viết của học sinh ở bảy khối lớp để đưa vào đặc san.
..
Đại diện cho học sinh các lớp đệ thất ( lớp 6) là Nguyễn Minh Phương, tác giả đoản văn có đầu đề rất dễ thương là Trìu mến. Minh Phương “trìu mến” cô giáo dạy Lý hóa “đẹp như một nàng tiên”, có tiếng nói của “loài họa mi”, có “ánh mắt chứa đầy yêu thương” và thường mặc “áo dài màu tím dịu dàng, tha thướt” vào những sáng mùa thu lành lạnh. Với Trìu mến, bài báo duy nhất nói về tình thầy trò của Đồng Khánh, em út Minh Phương đã thay mặt cho tất cả các chị để thắm thiết bày tỏ lòng kính mến quý thầy cô.
..
Đại diện không thể thay thế của học sinh khối đệ lục ( lớp 7) là Trần Thùy Mai, tác giả đoản văn Thơ ấu và học đường và bài tường thuật Ngày trại Trưng Vương. Ở lứa tuổi “thơ ấu” mà tác giả đã có thể viết về “học đường” với ý tưởng độc đáo của một cây bút có bản lĩnh: “Đối với riêng tôi, học đường không hấp dẫn bởi những bài học được nhắc đi nhắc lại hàng ngày. (…) Tôi nghe và hiểu bài vì mọi người bảo tôi rằng bổn phận tôi là nghe và hiểu bài. Chỉ có thế mà thôi. Nhưng cái làm cho học đường thêm đẹp đẽ, thêm cao quí là tình bạn.” Với ý tưởng sâu sắc, với bút pháp của một tài năng không đợi tuổi, tác giả Ngày trại Trưng Vương đã làm cho tôi phải ngạc nhiên, thích thú mà nghĩ rằng thầy giáo dạy Việt văn như mình cũng khó mà viết một bài tường thuật phong phú và sinh động như thế. Tác giả Thơ ấu và học đường là học sinh lớp đệ lục Trần Thùy Mai ngày ấy - tác giả Trăng nơi đáy giếng là nhà văn Trần Thùy Mai đã thành danh hôm nay - xứng đáng nhận lãnh phần thưởng về văn xuôi của Tập văn nữ sinh Đồng Khánh.
..
Chọn chủ đề là tình bạn như Thùy Mai, thay mặt mấy trăm học sinh các lớp đệ ngũ (lớp 8), Nguyễn Thị Lan Hương góp tiếng nói bằng bài viết có đầu đề là Tuổi học trò. Bài viết này khá dài, được tạo thành bởi nhiều lời đối thoại, vui đùa tưởng như không có chỗ dừng của một nhóm học sinh đang trên đường về nhà vì lớp không có giáo sư. Người đọc tìm gặp ở đó nhiều tiếng cười hồn nhiên, vô tư và có phần nghịch ngợm của những cô gái vừa rời bỏ tuổi thơ nhưng cũng chưa trở thành người lớn.
..
Khối đệ tứ (lớp 9) có nhiều bài viết giá trị. Ngoài hai truyện ngắn được giải thưởng đã nói trên, Ngô Anh Hoa (IV1) gởi đến đặc san hai bài thơ khơi dậy được niềm tin và nỗi tự hào của nữ sinh Đồng Khánh. Bằng lối viết giản dị, tự nhiên, trong Đồng Khánh của bé, Anh Hoa kể chuyện một chàng trai Quốc Học đã có lần mỉm cười chế diễu “Đồng Khánh là quái gì / Mà bé cứ ca mãi?, rồi đến một hôm …“Mắt mơ mộng xa vời (…) Đúng rồi em bé ơi/ Đồng Khánh đẹp quá sức!”. Cũng bằng phong cách ấy, trong Đồng Khánh, Anh Hoa tường thuật câu chuyện một bà tiên áo đỏ giáng trần, sau khi biết có thể tìm lại tuổi thơ, tuổi hoa mộng và cuộc đời đã mất ở Đồng Khánh, bà đã đến thăm trường và quyết định thay màu trắng “Cho bộ xiêm y mình/ Rồi trở lại thiên thai”, làm cho “Bầy tiên nương rực rỡ/Ngừng chơi nhìn sững sờ”...” Nếu không vướng nguyên tắc đã định trước là cho học sinh đệ nhất cấp phần thưởng về văn xuôi, dành phần thưởng về văn vần và tùy bút cho học sinh đệ nhị cấp, ban báo chí đã tặng cho Ngô Anh Hoa giải thưởng về thi ca.
...
Trong khối đệ tam (lớp 10), học sinh ban C tỏ rõ ưu thế. Tùy bút dạt dào cảm xúc Nắng trường của Lê Thị Liên ( IIIC2) có đủ nắng thu “hiền hòa ấm dịu”, nắng đông “hờn dỗi trốn vào mây”, nắng xuân “tưng bừng rực rỡ” và nắng hạ “rộn rã, nồng nàn như bầu nhiệt huyết của tuổi học trò”. Bài thơ Nét giao sơ của Hồ Thị Quãng (IIIC2) khắc họa hình ảnh “Cô học trò tung áo trắng thơ ngây? Trên đường quen và hoa nắng rơi đầy/ Cô cúi mặt nhìn chân vui bước mãi”. Lớp đệ tam C1 nổi trội với 48 học sinh mà đã đóng góp cho đặc san một số bài viết kỷ lục là 52 bài, trong đó có bài thơ Lời ca tâm tư do Ngọc Mai thay mặt cho những cô gái đủ khôn lớn để nói lên những thao thức, ưu tư về thời cuộc : “Hai mươi năm, lịm nụ cười / Đêm đêm súng đạn thay lời tình nhân”. Với thành tích ấy, lớp đệ tam C1 được ban báo chí trao tặng phần thưởng thiện chí.
..
Đặc san Đồng Khánh là sân chơi, là đất dụng võ của học sinh hai lớp đệ nhị C (lớp 11). Với Dấu xưa lạc mất, Mộng Hiền (IIC2) đoạt giải thưởng dành cho thể loại thi ca, vì đã thể hiện được ý nghĩa thâm thúy, vĩnh hằng của tình bạn – tình yêu bằng ngôn ngữ thơ: “Ghế đá công viên kỷ niệm ngày nào tươi thắm/ Giờ chia xa đếm được mấy năm rồi/ Chúng mình quen nhau độ ấy một lần thôi/ Chừ hun hút lối về vần thơ không ngọt nữa.” Cũng với chủ đề tình bạn, Ngô Thị Cần (IIC1) viết đoản văn Về Diễm, giãi bày nỗi nhớ thương người bạn hiền vì hoàn cảnh gia đình mà phải bỏ học nữa chừng để làm việc kiếm tiền nuôi thân và giúp đỡ mẹ. Sáng tác truyện ngắn Vùng tuổi thơ, Xuân Phúc (IIC1) ngậm ngùi tiếc nuối tuổi thơ đã mất cùng một lần với chuyến đi rời xa quê hương tuổi nhỏ là thành phố biển Nha Trang. Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường, Lê Thu Nguyệt (IIC1) viết Sinh nhật nàng, nhân hóa Đồng Khánh thành bà mẹ hiền ở lứa tuổi năm mươi, nhưng “da thêm hồng”, “tóc thêm xanh” để “gây niềm tin” và “hòa đồng điệu sống” với đàn con trẻ. Qua tùy bút có nhan đề là Phượng, Thu Nguyệt nhân hóa loài cây “ gắn bó với tuổi học trò” để ca ngợi “những chất liệu trong lành của thế giới tuổi trẻ”. Dưới ngòi bút của Tôn Nữ Vui (IIC1), tác giả bài văn giàu cảm xúc và nhiều tư liệu có tên gọi là Đồng Khánh năm mươi năm, ngôi trường mái đỏ tường hồng bên bờ sông Hương là “một chứng nhân bất diệt đã mục kích bao niềm đau dân tộc, trong đìu hiu của vô vàn nỗi buồn tỏa rộng hồn người”. Tuy thế, cũng như ở bài viết của Lê Thu Nguyệt trước đó, cái đọng lại sau cùng ở bài viết của Tôn Nữ Vui vẫn là niềm tin mãnh liệt ở tuổi trẻ, đất nước và cuộc đời : “Bạo cuồng, thù hận đến mấy rồi cũng bị hủy diệt – nhường chỗ cho lẽ phải, cho hiền lương – để tuổi trẻ mãi mãi là niềm hy vọng của cuộc đời.” Với hai bài viết có chất lượng, đáp ứng yêu cầu ra báo Đồng Khánh để kỷ niệm năm mươi năm ngày thành lập trường, Lê Thu Nguyệt và Tôn Nữ Vui xứng đáng nhận lãnh phần thưởng về tùy bút.
..
Những học sinh ở khối đệ nhất (lớp 12) thường bận rộn với kỳ thi Tú tài toàn phần ở cuối năm và những lo nghĩ về nghề nghiệp làm ăn sinh sống trong tương lai. Cho nên, mãi đến khi ban báo chí đã hoàn tất việc xét duyệt những bài báo được giải thưởng để kịp công bố vào lễ Trưng Vương được tổ chức trong tháng ba, nhiều học sinh đệ nhất mới bắt đầu viết bài và nộp bài .Vì đến giữa tháng năm báo mới ra mắt độc giả, nên các chị cả của gia đình Đồng Khánh vẫn còn cơ hội để góp tiếng nói. Đó là Nguyễn Khoa Diệu Hoa (IC1) tác giả bài biên khảo công phu về Thảm trạng phụ nữ Việt Nam…, Thy Thy Thảo (IC1), tác giả bài thơ dài Xin truy niệm, Mười – A – Hai (IA2), tác giả truyện ngắn Mặt trời và bài thơ Vết chân chim, Hồ Thảo Trang (IC1) và Hàn Phùng Ngọc(IA3), đồng tác giả bài Phỏng vấn quan khách…. Ban báo chí xin ghi nhận ở đây, dù quá muộn màng, thiện chí của các bạn học sinh khối đệ nhất, những người thường được xem là không còn nhiều duyên nợ với mái trường Đồng Khánh.
...
Đúng như tác giả Thơ ấu và học đường đã khẳng định, “cái làm cho học đường thêm đẹp đẽ, thêm cao quí là tình bạn”. Qua vô vàn đổi thay của đất nước và cuộc đời, khi trường lớp không còn nữa, tình bạn trong sáng ấy vẫn tồn tại để làm cảm hứng bất tận cho tác giả bài viết này và nhiều cây bút khác trong những tập Đồng Khánh trường xưa ở trong nước và nhiều Lá thư phượng vỹ ở nước ngoài. Không hẹn mà nên, tuổi tác càng cao thì những người con của Đồng Khánh năm xưa càng sống nhiều với quá khứ và viết nhiều về tình thân hữu Đồng Khánh, như con tằm mùa xuân đến thác mới ngừng nhả tơ, như cây đèn sáp chỉ thôi chảy nước mắt khi cái tim đã thành tro bụi:
“Xuân tàm đáo tử ti phương tận,
Lạp cự thành hôi lệ thủy can.”
( Lý Thương Ẩn, Vô đề )
..
Hà Thúc Hoan
20.7.11....