Sunday, June 30, 2013

L'Adieu - Apollinaire

..
(Hình: Internet) ...
.......
L'Adieu - Apollinaire
...
J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends
...
Bùi Giáng dịch
...
Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ không tao phùng được nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó...

.
Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ chẳng nhìn nhau trên đất nữa
Hương thời gian nhành thạch thảo tí hon
Và nhớ nhé ta đợi chờ em nhé.
..
(st).
..

Thursday, June 27, 2013

Bồ-Tát Ồn Ào

......
...
BỒ-TÁT ỒN ÀO
..
TÁC GIẢ: VĨNH HẢO
...
Có một vị bồ-tát rất tầm thường ở trong nhà của tôi, nhà của các bạn, nhà của mọi gia đình ở xứ này. Vị bồ-tát ấy cũng có mặt ở các văn phòng, hãng xưởng, bệnh viện, trường học, v.v… từ tư nhân đến công quyền. Ở nơi sang trọng thì ăn mặc gọn ghẽ, hình dáng thon thả, nhẹ nhàng; ở nơi xập xệ thì hơi cồng kềnh, luộm thuộm một chút. Nhưng vẫn cái dáng đó, ai nhìn vào cũng nhận ra.
..
Bồ-tát thường ẩn mặt chứ không đi nghênh ngang trước đám đông. Thường thì nép mình nơi chỗ kín đáo, nơi phòng tối, hoặc góc xó nào đó. Khi xuất hiện để “hành đạo” thì ồn ào, náo động, làm cho mọi người khó chịu, cho nên bồ-tát vẫn thích chọn những lúc vắng người mới xuất đầu lộ diện. Dù được những người giàu có trang bị cho bồ-tát bằng hình thức đẹp đẽ, gọn nhẹ nhất, và dù đã cố gắng nén tiếng dữ lắm, bồ-tát vẫn luôn là kẻ bị mang tiếng là hiếu động, ồn ào. Mang tiếng như thế, bồ-tát vẫn nhẫn nhục chẳng nói chi. Chưa hề kêu ca than oán, cũng chẳng hề giận dữ hay hờn dỗi ai. Bồ-tát không nói, nhưng khi cất tiếng nói lại chính là lúc làm việc giúp người. Giúp người, nhưng tại sao người lại ít có cảm tình với vị bồ-tát này đến thế? Tại sao người ta đều biết, đều gặp bồ-tát mỗi ngày một lần, hoặc vài ngày một lần, hay mỗi tuần một lần, vậy mà vẫn ít thèm để ý, ít trân trọng sự có mặt cũng như mục đích có mặt của bồ-tát này? Chung qui vì sự đóng góp của bồ-tát tuy khá quan trọng cho đời sống chúng ta, nhưng vẫn là cái gì thứ yếu, không trực tiếp tạo ra lợi tức hay là thứ gì có thể tính đếm, ghi vào sổ sách. Thêm vào đó, thời gian bồ-tát làm việc giúp người lại chính là thời gian ồn ào, đinh tai nhức óc nhất. Gì chứ chuyện ồn ào thì ngay trong những xã hội xô bồ nhộn nhịp cũng không ai ưa thích. Người ta có thể thích nghe những bản nhạc kích động qua hệ thống âm thanh khuếch đại, mở hết volume, phóng ra từ mấy cái loa to tổ tướng, nhưng cũng chỉ trong một cái phòng, một vũ trường, hoặc quán cà-phê nào đó của người Việt ở phố Bolsa, chứ chẳng ai chịu nổi âm thanh rè rè một giọng, ồm ồm một điệu của bồ-tát.
...
Nói tóm lại là người ta muốn bồ-tát hãy xéo đi chỗ khác, đừng có làm phiền người ta, nhất là khi người ta đang tâm sự (tình yêu, tình nhà, tình nước, tình lận đận, tình cho không…), thảo luận (thời sự, chính trị, kinh tế, tôn giáo…), bàn bạc (áp-phe, vay tiền, chuyện thiên thời hay địa ốc...), lắng nghe (tin tức, thuyết trình, tán gẫu, nói dóc, quảng cáo, ca nhạc…). Người ta cần chú tâm, cần yên tĩnh, cần được ngồi yên một chỗ nào đó, hoặc cần được kẻ khác chú ý trong im lặng, cho nên Bồ-tát xuất hiện chẳng khác nào xua đuổi người ta ra khỏi những khung cảnh thơ mộng và ổn định mà người ta đã chọn lựa. Vậy thì chỗ đứng thích hợp của bồ-tát là một xó, thời gian của bồ-tát là thời gian không người lai vãng.
...
Chiều lòng những người khó chịu, bồ-tát cam phận, lầm lũi nép vào góc tối, lặng lẽ chờ đợi. Không một lời ta thán. Không tự ái vặt. Cũng không khoác lác kể lể thành tích hoặc tranh công với ai. Chỉ âm thầm chờ đợi thời điểm cần thiết. Khi người ta cần đến, bồ-tát từ nơi tăm tối hăng hái bước ra.
..
Và đây, những gì bồ-tát đóng góp cho người, cho đời: đi từ đầu nhà đến cuối nhà, chạy từ góc đông qua mé tây, chui xuống gầm giường, rúc vào chân ghế, chân bàn, hùng hục đi tới đi lui, xăng xái lên bắc xuống nam, xoay bên phải quẹo bên trái, không hốc kẹt nào mà không luồn tới, chẳng chỗ khó nào mà bồ-tát bỏ quên. Mồm há thật rộng, chân cuốn như xa luân, lúc tiến lúc thoái, dũng mãnh, kiên cường… chỉ với một ý nguyện to lớn là đón nhận tất cả những ô uế, bụi bặm, rác rưởi của trần gian.
...
Nguyện rằng dưới bước chân tôi, những gì dơ – xấu sẽ trở thành sạch – đẹp, những gì tanh hôi sẽ biến mất và trở nên thơm tho. Tôi đến với thế gian này, tuy rằng cũng khá làm phiền quý vị nhưng khi tôi rời quý vị để trở về với góc tối của tôi, không gian chung quanh quý vị biến thành cảnh trí thanh khiết, đẹp đẽ, sạch sẽ. Tất cả những gì quý vị trưng bày trang trí trong bất cứ khung cảnh nào, căn phòng nào, dù là trang trí cho nhu cầu thẩm mỹ nghệ thuật hay trưng bày để khoe của, phô trương, đều trở thành vô nghĩa, vô duyên, nếu không có tôi đến để thực hiện ý nguyện và trách nhiệm của tôi. Tôi đến xong rồi đi, chẳng để lại dấu vết gì, nên cũng chẳng ai biết hay nhớ rằng ngay ở những nơi chốn đẹp đẽ sạch sẽ ấy đã có sự xuất hiện tiên phong của tôi. Người ta đến trong cuộc đời này để bày biện và cố tình để lại những dấu vết trong khi tôi đến để xóa dấu vết. Những gì quý, đẹp, sạch, dùng được, đều được ở lại, chỉ riêng tôi là rút vào hậu trường bóng tối. Sẽ không ai còn nhớ đến tôi cho đến khi họ cảm thấy không thể chịu đựng nổi những dấu vết của bụi thời gian và bụi từ đất trời. Nhưng tôi cũng không lấy đây làm điều, vì người ta còn nhớ đến thì ước nguyện của tôi vẫn còn có cơ hội để thực thi: làm sạch cuộc đời. Tôi đã hóa thân và có mặt khắp các nơi chốn bằng nhiều hình thức, kiểu dáng, công dụng, để đáp ứng với thị hiếu và khả năng của mọi thành phần xã hội. Tôi và tất cả các hóa thân khác của tôi tự nguyện thâu nhận tất cả những bụi bặm dơ nhớp của trần gian về phần mình để cuộc sống mọi người được vệ sinh, ít bệnh, ít khổ. Tóm lại, phần dơ - xấu: tôi đón nhận; phần sạch - đẹp: nhường dâng cho mọi người.
...
Hiểu được ý nguyện cao đẹp một cách âm thầm, lặng lẽ của vị bồ-tát này, hẳn là không ai có thể tưởng tượng được là bồ-tát lại mang tiếng là kẻ ồn ào. Có cái gì trái ngược giữa ý nguyện và danh xưng của vị bồ-tát này. Ý nguyện đó có thể nói theo ngôn ngữ Phật giáo là: “Nguyện thay chúng sinh gánh chịu tất cả phiền não, ô trược, cáu bẩn của trần gian khiến cho mọi loài đều được an vui, hạnh phúc.”
...
Đó là một đại nguyện thường được tán dương và âm thầm thực hiện trong các hạnh của bồ-tát. Đó cũng là câu chuyện của cái máy hút bụi mà nhà nào cũng có.
...
Bạn đã đối xử với vị bồ-tát “ồn ào” này như thế nào? Có trân trọng không? Có thường đáp lễ bằng cách lau chùi, chăm sóc, làm sạch lại cho bồ-tát không?
...
Một kẻ muốn làm sạch cho kẻ khác, cho cuộc đời, trước tiên phải sạch nơi chính mình. Bồ-tát ồn ào đã nói với chúng ta như thế. Có nghĩa là chúng ta nên nhớ thay bao (hay hộc) chứa bụi sau khi hút bụi. Nếu chỗ chứa bụi đầy ngập bụi rác, sẽ không có khả năng hút và chứa thêm. Chúng ta cũng đừng quên tháo gỡ những sợi chỉ hay tóc bị cuốn nơi trục lăn, cũng đừng quên vô dầu mỡ, thay giây belt khi bị đứt, vì trục không quay, máy sẽ chẳng hút được gì cả. Phải làm sạch máy hút bụi trước khi hút bụi.
...
Tôi chẳng phải nhân viên quảng cáo của các công ty sản xuất máy hút bụi (như Hoover, Kenmore, Eureka, Bissell, Oreck…). Tôi chỉ muốn giới thiệu bồ-tát hút bụi đến với bạn để cuộc sống thêm chút thăng hoa, nhất là có thêm bằng hữu để học với nhau những ý nguyện tốt đẹp. Bạn không cần phải gọi máy hút bụi là bồ-tát như tôi. Gọi như thế nào cũng được, nhưng nên nhớ rằng bạn có một người bạn tốt trong nhà. Tuy có lúc ồn ào, nhưng thường khi thì lặng lẽ khiêm cung, chỉ đứng im trong góc xó, mà công hạnh thì không phải là nhỏ đối với đời sống của bạn. Một người bạn tốt như thế mà không biết trân quý thì thật đáng tiếc.
..
TÁC GIẢ: VĨNH HẢO
...
(sưu tầm)
..........
...
.....

Thursday, June 13, 2013

thơ Tình Ca

...
tranh họa sĩ Thái Tuấn
TÌNH CA
......
Muốn về thăm vườn xưa
Tặng em bông cúc nhỏ
Mưa nắng đã bao mùa
Chẳng biết hoa còn nở

..
Muốn về dòng sông cũ
Tặng em vầng trăng trong
Trăng theo người viễn xứ
Lạnh buốt mấy trời đông

..
Tặng em hàng cây cao
Nhớ con đường tuổi nhỏ

Một sớm đời lỡ nhau
Đã mười năm dâu bể

..
Tặng em vì sao sáng
Thăm thẳm giữa trời khuya
Như cánh chim phiêu bạt
Vẫn hẹn một phương về

..
Tặng em hạt mưa sa
Trước hiên nhà bóng tối
Trên quê hương đọa đày
Người mong người đã mỏi

..
Hãy khơi dòng nước lũ
Chảy xuôi về biển Đông
Tìm nhau trên đất hứa
Xin tặng đời trăm năm

..
Tác giả: Đào Trường Phúc
...
Trương Mỹ-Vân (ĐK 67) sưu tầm
.........
...

Wednesday, June 12, 2013

Có hề chi

........
....(nguồn: Internet).
Có Hề Chi
......
Có hề chi một chiếc lá rơi
thiếu một chiếc mùa Thu vẫn đẹp
người ta vẫn gặp gỡ - chia phôi
không lưu luyến chẳng hề nuối tiếc
..
Có hề chi một cánh hoa rơi
thiếu một cánh mùa Xuân vẫn thắm
người ta vẫn cứ sống, cứ vui
như chẳng có gì quan trọng
..
Có hề chi một ánh sao băng
thiếu một ánh trời đêm vẫn sáng
người ta vẫn đứng dưới mặt trời
hạ vẫn chan hoà muôn tia nắng
..
Có hề chi một người ra đi
thiếu một người cuộc đời vẫn thế
sao kỷ niệm êm đềm năm tháng cũ
vẫn nhói tim ta những sáng đông về.
..
Tác giả: Ngô Tịnh Yên
...
Trần Phương Mỹ (ĐK67, B5) sưu tầm
..... ....\

Monday, June 3, 2013

tranh thơ Như Quê 5

Tranh thơ Như Quê 5....
TRANH NHƯ QUÊ
...
.....
..................
BÀI CA CỦA CON CHIM NHỎ
..
Con chim nhỏ trên cầu Châu Ê *
Nó ca bài ca năm tháng
Rặng liễu buồn nơi xa chân núi
Bàng bạc mây trời sương khói chiều tà
Trời xuống dần khuất núi xa xa
Suối róc rách Châu Ê thổn thức
Con chim nhỏ buông lời tỉ tức
"Ơi Châu Ê, hỡi Châu Ê !"
Bài ca xưa, hồn thiêng sông núi
Nỗi buồn vời vợi, hoang phế, lụi tàn.
Con chim nhỏ trên cầu Châu Ê
Vẫn ca bài ca năm tháng
Ngày lên dần, nắng vàng rực sáng
Thương Châu Ê hoang phế, lụi tàn
..
 ĐOÀN NHƯ QUÊ..

 * Cầu Châu Ê trên đường đi lên Tuần, qua cầu Lim đi thẳng rồi rẽ phải. Nơi đây không có khách du lịch, không có người lui tới, nhưng mãnh đất như có hồn thiêng, địa danh Châu Ê gợi lên một thời vương quốc Chăm Pa lụi tàn.

....

Saturday, June 1, 2013

Tờ lịch

(Hình: Internet)
.
Tờ Lịch Gỡ Mỗi Ngày
......
Nhà tôi treo một “lốc” lịch to nơi phòng khách, mỗi sáng thức dậy, tôi gỡ một tờ quăng đi… Khi ló tờ mới, tôi xem kỹ câu danh ngôn nếu có, coi đấy như lời dạy dỗ đầu ngày của các bậc tiền bối ! Không biết ai sao, riêng tôi thấy tâm đắc việc này lắm !
.
Ví như, sáng thứ 2 tuần trước, ngủ dậy liền đến bóc tờ lịch, tờ mới có ghi câu danh ngôn của Turenne: Tôi có ý kiến này muốn tặng bạn: Đó là, mỗi khi bạn muốn nói, bạn hãy làm thinh.”  Xem câu ấy xong, tôi ngẫm nghĩ… và thấy có lý, hay lắm.  Quá hay đi chứ! Lời khuyên răn này rất xác đáng, đã đúc kết một kinh nghiệm quí báu trong cuộc sống đầy những chuyện khôn lường của lòng dạ con người!  Và, ngày hôm đó tôi cẩn ngôn hơn!  Tôi chỉ thực hành nửa câu nói ấy mà cũng thấy mình khá rồi!   Còn thực hành nguyên câu dĩ nhiên là không nỗi!  Xin cảm ơn ông hay bà Turenne người nước nào tôi không rõ, đã cho tôi một chút của báu giắt lưng phòng thân trên đường đời gian truân!  Tôi không muốn coi tiếp câu danh ngôn của ngày kế tiếp… Ừ, cứ giữ bí mật để đó, vội gì!
.
Đến sáng ngày thứ 3, ngủ dậy, tôi lại gỡ lịch, gặp câu nói của Swift:  “Nổi giận là tự gánh giùm lỗi của người khác!”  Chí lý ! Dại gì mà nổi giận cơ chứ!  Quả nhiên, câu ấy tác động nơi từng sâu thẳm tâm hồn, ngày hôm đó gặp nhiều việc bực mình, mà tôi đâu có thèm giận!  Ngu gì gánh lỗi kẻ khác!  Lại phải cảm ơn cái ông Swift hay bà Swift gì đó nữa!…
.
Rạng đông ngày thứ 4, lại ló tờ lịch ghi câu của Montesquieu: “Phải khóc con người lúc sinh ra, chứ đâu phải lúc chết.”  Chết rồi có phải làm gì nữa đâu mà cực với nhọc!  Thế thì cũng chả nên khóc lóc mà làm chi!   nhỉ!  Lạ thật!  Cái chết đột nhiên giảm bộ mặt khủng khiếp trong tâm tưởng tôi, nói chí tình cũng phải có chút ít tác dụng của Montesquieu mới ra thế!  Và, ngày hôm đó tôi nghị lực hơn, yêu đời hơn!  Lại cảm thấy mình cứng cáp lên!
.
Sang ngày thứ 5, tờ lịch hiện lên câu ngạn ngữ Ba Tư:  “Lưỡi dài thu ngắn đời sống.”  Ôi, quá chất lượng!  Dân Ba Tư kinh nghiệm quá dày dặn!  Nói lắm chỉ được cái “nguy to”, chỉ được cái “rước họa vào thân!” 
.
Đến ngày thứ 6, tờ lịch lấp lánh câu danh ngôn khác, thật cao siêu của Villier de l’Isle Adam:  “Người nhục mạ bạn, họ chỉ nhục mạ ý nghĩ của họ có về bạn, tức là họ nhục mạ chính họ!”.  Câu này trong tầng sâu là đúng, nhưng thực hiện quả là thiên nan vạn nan! Lên hàng thánh mới xài được! Tâm đắc lắm nhưng cứ cất yên đấy!  Công lực chưa đủ, chờ thời gian nữa hẵn hay!

.
Sáng ngày thứ 7, lại ló câu của Cervantes: Ăn to thì di chúc nhỏ.”  Ui chao! Cũng có lý quá! Tôi coi tiếp luôn ngày Chủ nhật xem sao… Đó là câu của G. Herbert:  Ai cũng có một thằng điên trong ống tay áo.”  Trời đất!  Lại cũng quá đúng!  Những lúc bưng ly bia, cốc rượu chỗ đông người, trong ống tay áo tôi thường rớt ra thằng điên, thậm chí đôi lúc rớt ra hai thằng!  Say quá, có khi rớt tới ba thằng!
.
Ôi chao!  Riêng về phần danh ngôn, tờ lịch vậy mà hay!  Một lần nữa xin cảm ơn, cảm ơn… tờ lịch gỡ mỗi ngày!  Việc gì phải đi thư viện đọc sách hao thời gian, cứ lịch đấy mà học mãn đời không hết !
.
Không rõ tác giả
.
Nguyễn thị Hòa (ĐK67, B6, C2) sưu tầm

Thursday, May 30, 2013

Có phải trời mưa

thơ Thu-Lê (ĐK67)
.

......
CÓ PHẢI TRỜI MƯA
.
Có phải trời mưa mà xuân không lại
Hay vì giông bão ở tận cõi lòng
Trời mây sầu vần vũ thật bi ai
Em thầm đếm từng giọt buồn rả rích
..
Có phải lòng buồn nên đông chưa dứt
Chờ đợi nhau lòng giá lạnh đơn côi
Gọi tên nhau cho đêm sầu ngắn lại
Cho mây trời thôi che mất bóng trăng
..
Có phải em khóc nên hoa không nở
Mặc xuân về rộn rả tiếng cười vang
Âm thầm kéo nhẹ rèm che cửa sổ
Để không gian đỡ trống vắng thênh thang
..
Có phải anh buồn mà chim thôi hót
Nắng không trong và cây lá đứng im
Bài ca buồn tiếng lòng ai nức nở
Cho hồn ai thơ thẩn mãi kiếm tìm
..
Có phải gió yên cho mây ngừng trôi
Mặc tơ trời che kín hồn thương đau
Xa xôi quá với tay hoài không tới
Một mình ôm trọn mảnh tình cho nhau
.
Thu-Lê

Wednesday, May 29, 2013

có con cá nhỏ sau vườn

NGÀY XƯA CÓ CON CÁ NHỎ SAU VƯỜN
.....
TÁC GIẢ: THAINC.
....
Mỗi khi nói đến Huế, tôi lại nghĩ ngay đến chữ lụt.
Ngày còn trẻ thơ, tôi nào biết rằng lụt là thiên tai, là mất mát thương đau!  Lụt lội với tôi là những ngày vui được nghỉ học, được nghịch ngợm chơi đùa với nước.  Có một năm lụt, tôi lội nước chơi sau vườn và thấy có một chú cá con, chắc từ sông Hương nước tràn lên trôi lạc vào nhà tôi, mắc kẹt trong một vũng nước.  Tôi thích quá thò tay xuống tính bắt nó; nhưng mà chú cá lanh lắm.  Tay tôi mới đụng tới mặt nước bên trái là chú bơi qua bên phải.  Tôi qua bên phải thì chú quảy đuôi vọt về bên trái.  Bao giờ nó cũng nhanh hơn tôi một chút.  Cứ như vậy gần nửa tiếng đồng hồ, không bên nào chịu thua bên nào.  Tôi mê con cá này quá, nhứt định phải mang nó vô nhà nuôi, nên chạy kiếm một cái tô thiệt to tính rằng phen này sẽ hốt chú lên dễ dàng. 
Tính là như vậy, nhưng khi ra tới nơi thì… chú đã đi mất rồi.  Ý chừng chú biết tôi có vũ khí lợi hại nên bơi đi chỗ khác.  Tôi buồn lắm.  Mấy ngày sau đó cứ ra chỗ vũng nước cũ chờ chú cá con trở về, hay là có chú cá khác đi lạc vô đây cũng được.  Tôi đứng đó thề với cái vũng nuớc với hy vọng là chú cá nếu còn quanh quẩn đâu đây sẽ biết tôi không muốn bắt chú nữa, chỉ muốn chơi cút bắt với chú như hôm nọ mà thôi.  Nhưng chú cá con không hề trở lại.  Tôi còn quá nhỏ để hiểu rằng khi cá đã ra sông rộng thì còn quay lại ao cạn mà làm chi!
......
Sông Hương ư?  Nói tới Huế mà không nói tới sông Huơng thì khác chi nói đến Paris trong một đêm bị cúp điện, hay bóng đá thế giới mà thiếu Ba Tây?  Tuy vậy, sông Hương đẹp ở đâu, mơ mộng chỗ nào tôi vẫn còn mù mờ lắm.  Với cái kiến thức nhỏ nhoi của tôi, sông Huơng chỉ là một đọan ngắn chảy ngang qua ngôi trường làng.  Những buổi chiều tan học tụi tôi đứng sẵn trên bờ chờ những tàu tuần duyên chạy trên sông.  Khi tàu chạy ngang trường, những người lính Mỹ trên đó ném xuống sông những trái táo hay cam Mỹ.  Tụi tôi bèn ùa xuống sông bơi ra dành giựt nhau.  Tôi nhỏ và bơi dỡ ẹt nên chẳng bao giờ dành được trái cam nào cả.  Có một thằng bự con và bơi khỏe nhất, khi nào cũng giành được vài quả, nhưng nó không bao giờ ăn.  Sau này tôi mới biết nhà nó nghèo lắm.  Những trái cây nó bơi giành được, đem về cho mạ nó đem ra chợ bán phụ thêm vào chi tiêu gia đình.
 .....
Huế cũng là cái nôi tranh đấu của Phật Giáo.  Có một dạo bỗng nhiên nhà nhà đồng lượt khiêng bàn thờ ra đường …tranh đấu, rồi bãi khóa, rồi đình công, bãi thị vv… Không biết người lớn tranh đấu thế nào, chứ lũ con nít tụi tôi thì thích lắm.  Dễ hiểu thôi, vì bàn thờ thì phải có chuối, cam, quit cúng Phật chứ.  Tụi tôi chỉ chờ chạng vạng tối bèn nhào ra, vái Phật một cái xin phép, xong rồi khiêng hết trái cây trên bàn thờ chạy lại một chỗ kín đáo nào đó hưởng lộc đã đời.   Nhưng mà chưa có mục nào vui bằng mục này.  Không hiểu bắt nguồn từ đâu và vì chuyện gì mà mỗi nhà đều có một thùng thiết và thanh củi để sẵn trước nhà.  Giữa đêm đang ngủ mà nghe tiếng thùng thiết vang lừng từ đầu xóm, tức là có “báo động”, “có chuyện”.  Chuyện chi?  Không cần biết.  Tôi luôn luôn là người đầu tiên trong nhà dành cái thùng để đập một cách hăng say nhất.  Thông thuờng thì sáng hôm sau người ta sẽ hỏi lẫn nhau “Hồi hôm báo động chuyện chi ?”  Ai mà biết !
...
Huế trong tôi cũng có những người thật đáng nhớ.
....
 Người đầu tiên tôi nhớ là Thằng Vui Điên.  Tôi gọi là “thằng” theo như mọi người gọi nó, chứ thật ra nó lớn hơn tôi nhiều.  Nó khoảng chừng 15, 16 tuổi.  Tôi nhớ là thằng Vui Điên không kể trời mưa hay nắng, bao giờ cũng chỉ cái quần đùi màu đen, ở trần trùng trục với tấm thân rắn chắc và đen đúa.  Điểm đặc biệt của Vui Điên là nó chạy nhanh lắm.  Nó thường đợi có chiếc xe hơi, hay xe gắn máy nào chạy qua là nó hùng hục chạy đua, và hình như bao giờ nó cũng thắng.  Thằng Vui Điên có một lối kiếm ăn vô cùng độc đáo.  Mỗi ngày nó ra đường kiếm một hàng bánh nào đó đợi bà hàng lơ đãng một chút là nó chụp cái bánh chạy.  Nó đâu cần chạy đâu xa, chỉ vài bước là nó dừng lại trả cái bánh.  Đố bà nào mà dám lầy lại, vì cái bánh đó đã bị nó…nhổ cho một bãi nước miếng rồi.  Lấy lại bán cho ai?  Một lần tôi theo chị tôi ra chợ.  Trong lúc chờ chị mua đồ, tôi đứng tần ngần nhìn hàng bánh bò, thèm thuồng muốn ăn mà không có tiền mua.  Lúc đó thằng Vui Điên từ đâu rà tới ra dấu có ý hỏi tôi muốn ăn bánh phải không -(Trời ơi, ai nói nó điên?)-  Tôi gật đầu.  Nó chạy lại hàng bánh, bất ngờ chụp một miếng, xong chạy lại cho tôi.  Chưa kịp cắn miếng nào thì chị tôi về tới thấy tôi lấy miếng bánh của thằng Vui Điên, sợ quá giựt miếng bánh quăng xuống đất.  Chị tôi sợ tôi không biết, ăn cái bánh có dính nước miếng của thằng Vui Đìên sẽ bị lây bệnh điên.  Chị trừng mắt mắng nó “Vui Điên, mi không được chọc em tau.”  Thằng Vui Điên không biết sợ trời sợ đất nào cả, mà chỉ sợ…con gái.  Chị tôi so ra còn nhỏ hơn nó vậy mà chỉ trừng mắt một cái nó tiu nghỉu bỏ đi một mách.  Tội nghiệp.  Tôi thấy rõ ràng nó giựt miếng bánh xong là chạy một mạch tới cho tôi.  Có nhổ chút nước miếng nào đâu?  Tôi vừa tiếc cái bánh vừa tội nghiệp Vui Điên.  Tôi thấy nó bỏ đi nhưng còn quay đầu lại nhìn tôi như muốn hỏi nó cho tôi cái bánh, và muốn chơi với tôi, tại sao lại đuổi nó đi? Tôi thương thằng Vui Điên quá mà không biết phải nói sao!
..
Mụ Trung bán đậu hủ nước đuờng chắc cũng chưa già lắm đâu, chỉ vì cuộc đời tần tảo bán buôn làm nét mặt mụ trở nên cằn cổi và mái tóc sớm điểm sương.  Mỗi trưa chúng tôi hay ngồi chờ tà áo dài tím thướt tha của mụ xuất hiện ở đầu xóm với tiếng rao “Aaiìi ...đậu hủ....”.  Cho đến khi xa lìa Huế, tôi mới biết đó là cái độc đáo chỉ có quê tôi mới có những mụ hàng chè, o trứng vịt lộn, già hay trẻ đều đi bán hàng với chiếc áo dài.  Gánh đậu hủ mụ Trung một đầu là cái tỉn chứa đậu hủ, còn đầu kia là rổ đựng đầy chén, muỗng, đường, nước rửa chén, vv… Mụ có một cái bệnh gọi là bệnh LIỆU.  Bệnh này kỳ lắm, cứ hể thấy ai làm cái gì môt hồi là cũng sẽ bắt chước làm theo, không cưỡng lại được.  Hồi đó tôi còn nhỏ nào biết gì, theo mấy đứa bạn tinh nghịch.  Sau khi ăn đậu hủ xong tụi tôi đứng lên vừa nhảy vừa la “nhảy! nhảy!!!” thế là mụ Trung cũng nhảy và la theo “nhảy!nhảy!!!”.  Tội nghiệp mụ.  Tụi tôi con nít nhảy mấy cũng không sao, nhưng mụ Trung thì mới nhảy chút xíu đã mệt thở phì phò phải ngồi phệt xuống đất, vậy mà cũng cứ nhấp nhỏm muốn đứng dậy tiếp tục nhảy theo tụi tôi.  Một lần có anh ba gai muốn chọc mụ Trung thiệt rắn mắt.  Anh ăn đậu hủ xong bỗng đứng dậy làm bộ như đang lấy tiền trong túi quăng ra và nói “Quăng tiền Quăng tiền”. Mụ Trung cũng đứng dậy la “quăng tiền quăng tiền!!!”, và giữa lúc mụ sắp sửa lấy tiền quăng thiệt thì không hiểu sao … bỗng tỉnh lại.  Mụ lấy cái đòn gánh phang cho anh ba gai đó một cái nên thân vô lưng, vừa rượt anh ta chạy vừa chửi “Quăng tiền cái mả cha mi chứ quăng tiền.”  Cho nên, Mụ Trung tuy bệnh như vậy, nhưng đừng hòng ai làm hại được mụ.
....
Còn gì nữa? Còn nhiều lắm. Nhưng điều cuối cùng tôi nhớ về Huế là một buổi sáng mưa bay bay, có một thằng bé ôm khư khư trưóc ngực một cái mền, trong đó cuộn vài bộ quần áo tại một nơi đưọc gọi là phi trường Phú Bài.  Nó tần ngần nhìn qua cửa kiếng thấy chiếc máy bay đậu ngoài kia dưới con mưa phùn mà lòng sợ sệt không yên.  Chiếc máy bay đó chút nữa thôi sẽ mang nó bay lên bầu trời cao về một miền xa thật xa, và ở nơi thật xa đó sẽ không có Vui Điên, hay mụ Trung nữa.  Và chắc cũng sẽ hết những ngày lội nước lụt, chơi cút bắt với con cá nhỏ sau vườn.
...
Nó chỉ không ngờ rằng chuyến bay đầu đời đó sẽ kéo dài đến.... ba mươi năm.
..
THAINC...
...
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Thursday, May 23, 2013

Thấp Thoáng Lời Kinh



...
TÙY HỶ
..
TÁC GIẢ: B S ĐỖ HỒNG NGỌC
..

Lúc bấy giờ Di Lặc Bồ tát bèn bạch Phật: « Thế Tôn ! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào nghe kinh Pháp Hoa này mà tùy hỷ thì đặng bao nhiêu phước đức ? »
..
Ối trời, các phẩm trước của Pháp Hoa đều chỉ nói đến chuyện « thọ trì đọc tụng biên chép giảng nói » kinh… mới có được phước đức, bây giờ Bồ tát Di Lặc hỏi kỳ cục: chỉ tùy hỷ không thôi thì sẽ đặng bao nhiêu phước đức ?
..
Bồ tát Di Lặc quả là vị Phật của tương lai, biết trước loài người sau này ngày càng ham danh ham phước mà lại làm biếng, chỉ muốn người ta làm sẵn rồi… « ăn theo »! Có lẽ vì thế mà Di Lặc Bồ tát thuở xưa có tên là Cầu Danh, làm biếng có tiếng, đến nỗi bị Bồ tát Văn Thù chê trách: « tham ưa danh lợi, dầu cũng đọc tụng các kinh mà chẳng thuộc rành, phần nhiều quên mất »!
..
Nhưng thật bất ngờ, Phật hỏi lại: Giả sử có một đại thí chủ bố thí cho khắp chúng sanh mọi thứ tiền tài của cải trong tám mươi năm, rồi bố thí pháp giúp chúng sanh đó đắc A-la-hán, thiền định, tự tại « đủ tám món giải thoát » thì công đức đó có nhiều không ?
..
Di Lặc đáp : Rất nhiều. Rất nhiều. Vô lượng vô biên công đức ! Nào tài thí, nào pháp thí… cho chúng sanh đạt quả A-la-hán, Vô sanh, Niết bàn, còn gì hơn !
..
Phật nói : Không ăn thua chi đâu ! Chỉ cần một người nghe kinh Pháp Hoa mà tùy hỷ rồi đem kể lại cho người khác, rồi người đó lại tiếp tục tùy hỷ kể cho người khác nữa… cứ thế cho đến người thứ năm mươi thì « công đức tùy hỷ của thiện nam tử, thiện nữ nhơn thứ năm mươi đó… gấp trăm nghìn lần, gấp trăm nghìn muôn ức lần… đại thí chủ kia, không thể tính đếm được !
..
Người thứ năm mươi đó mà còn phước lớn như vậy huống là người được nghe kinh Pháp Hoa trong buổi hôm nay mà có lòng tùy hỷ thì « phước đó lại hơn vô lượng vô biên a tăng kỳ không có thể so sánh đặng » ! Phật còn dặn Di Lặc: « Nghe cho kỹ nha ! » Nghiã là không phải chuyện chơi !
..
Rồi Phật còn cho thí dụ cụ thể hơn : Chỉ cần trong chốc lát nghe nhận, cũng đủ… ở thiên cung, chỉ cần né qua một bên cho người khác ngồi ké để cùng nghe đủ để làm Phạm Vương, Đế Thích… ! Cho đến một người chỉ cần truyền miệng, rỉ tai nói với người khác rằng : « Có giảng kinh Pháp Hoa kìa, nên cùng nhau tới nghe đi! » Vậy thôi là đã công đức lớn đến nỗi thân thể đâm ra tuyệt mỹ, trí tuệ sáng lán…
..
Tin được không ? Chỉ một chút « tùy hỷ » mà được phước đức lớn như vậy sao? Nhưng rồi Phật kết luận : Một chút tùy hỷ mà đã vậy huống là một lòng nghe, đọc , tụng, giảng nói, « đúng như lời dạy mà tu hành » thì phước đức biết chừng nào ! Nhớ nhé. « Đúng như lời dạy mà tu hành ». Thì ra cái « bí quyết » nằm ở đó. Chứ nghe loáng thoáng tưởng bở thì nguy tai. Đọc tụng suông ngàn lần cũng vô ích. Một là phải đúng như lời dạy vì Phật thừa biết nạn « tam sao thất bổn », thậm chí xuyên tạc, truyền đi một lát đã hoàn toàn sai lạc huống chi truyền tới người thứ năm mươi ! Và hai là phải tu hành, nghĩa là không phải chỉ nghe suông, đọc suông, tụng suông, giảng nói suông mà còn phải tu và phải hành nữa ! Chính cái đó mới đem lại phước đức.
..
Phẩm tùy hỷ công đức này lạ. Mục đích vẫn là khuyến khích động viên cho các vị có cơ hội ngồi nghe Phật nói kinh Pháp Hoa buổi hôm nay có thể trở thành một vị « pháp sư » chân chánh, ở nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai để truyền đạt tinh chất Pháp Hoa cho muôn đời sau – một khi Phật đã diệt độ – từ thế hệ này đến thế hệ khác, ít nhất 50 thế hệ, tính ra cũng phải nghìn năm ! Cái bí kíp đó, cái bí mật đó, cái kho tàng Như Lai đó, cái Như Lai tạng đó… đã bày ra, chỉ ra cho mọi người thấy, nhưng liệu có bao nhiều người sẽ chịu thấy chịu biết ? Bao nhiêu người sẽ « nghe nhận », nghĩa là sẽ tin theo để phụng trì đọc tụng biên chép giảng nói chính xác, « đúng như lời dạy ». Chính xác ở đây không phải từng chữ từng câu, mà là ở cái cốt lõi, cái tinh túy. Bỏ một chữ cũng trật mà bám theo từng chữ cũng trật ! Bao nhiêu người đã không tin mà bỏ đi ? Bao nhiêu người ngờ vực, thắc mắc đến khi hiểu ra thì rơi lệ, hớn hở vui mừng ? Các vị A-la-hán đã vô sanh, đã đặt gánh nặng xuống, phạm hạnh đã tròn đầy mà bây giờ biết mình cũng sẽ thành Phật cũng đã mừng vui hớn hở, nước mắt nước mũi ràn rụa đó sao ? Cũng bởi xưa Phật nói khó lắm, khó lắm, phải trầy vi tróc vẩy, nào Tu-đà-hườn, nào Tư-đà-hàm, nào A-na-hàm rồi A-la-hán vô cùng gian khó, mà nay bảo Niết bàn đó là giả, là « hoá thành », là trạm dừng chân, chơi cho vui thôi chớ Niết bàn thiệt thì đã ở ngay đây rồi, có sẵn nơi mọi người rồi, chỉ cần ngộ nhập « Tri kiến Phật» để mà thấy biết! Mà tri kiến Phật thì ai cũng sẵn có đó rồi. Nó chẳng đến chẳng đi. Nó vậy đó. Đời đời kiếp kiếp. Nhưng tại sao trong cái cõi Ta bà kỳ cục này có người hạnh phúc có người khổ đau. Tại sao cùng một sự việc, kẻ cười ha hả, người bứt tai bứt tóc ? Tại sao có khổ ? tại sao có sanh bệnh lão tử, oán tắng hội, ái biệt ly… Thì ra cũng tại các « món tình » của chúng sanh bày vẽ đó thôi. Nếu ai cũng nhìn ra Như Lai, thấy biết Như Lai thì đã sống cùng, sống với Như Lai đó rồi. Sẽ không còn vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh mà đã trở thành Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Thấy biết như vậy rồi chỉ còn có việc tủm tỉm cười thôi ! Cái bí mật đó bây giờ Phật mới nói ra. Cho nên nói Pháp Hoa chỉ có một mục tiêu duy nhất là « khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật », làm sao cho tất cả chúng sanh có được cái tri kiến đó vốn là bản hoài của chư Phật từ lâu xa và mãi mãi về sau.
..
Từ một sự khiếp sợ, lo lắng, u sầu bỗng thênh thang con đường giải thoát, nhìn cuộc nhân sinh ngộ nghĩnh của chính mình chẳng cũng khoái ru ? Hỷ lạc sẽ đến khi nhận ra « hành trình » của Như Lai, không sanh không diệt, không thêm không bớt, không đẹp không xấu. Như một trò chơi puzzle của đứa trẻ con, lắp ghép các mảnh rời để tạo nên khi thì con voi khi thì con sư tử, khi vịt khi gà, khi thằng hề chú cuội, chiếc xe, máy bay, tàu thủy… rồi xóa đi rồi lắp lại cũng với chừng ấy mảnh vụn, với các hình tướng không có thật- giả tướng- mà nếu nhìn xa hơn nữa, thậm chí cũng chẳng có những mảnh ghép rời rạc kia nữa, bởi chúng đã làm từ những miếng cạc-ton, miếng plastic, rồi tới phiên nó đã từ gỗ, từ cao su, từ nắng từ gió từ đất mà ra… , rồi xa hơn nữa là từ những nguyên tử, từ hạt từ sóng! Tri kiến Phật đã sẵn có trong ta, chỉ cần một chút giật mình : Ngộ. Như chớp. Huệ Năng chỉ nghe « ưng vô sở trụ » đã thấy ngay « bổn lai vô nhất vật ». Cho nên trong phẩm này, nhiều lần nhắc « trong chốc lát nghe nhận »… Phải, trong chốc lát nghe nhận.
..
Nhưng câu hỏi đặt ra là tại sao chỉ cần tùy hỷ, chỉ cần « vui theo » là đủ?
..
Tưởng « tùy hỷ » dễ mà thực ra chẳng dễ chút nào ! Trong tứ vô lượng tâm Từ Bi Hỷ Xả thì Hỷ có vẻ… là « món » khó nhất ! Thương người (Từ), giúp người bớt khổ (Bi), xả bỏ những vướng mắc, chấp thủ, tham ái… (Xả) có lẽ còn dễ, còn có thể huân tập được, thực hành dần dần rồi cũng biết bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn… Còn Hỷ, tùy hỷ hả? Còn lâu ! Bởi ấy là lúc phải triệt tiêu lòng ganh tị, ghen ghét, đố kỵ trong chính bản thân mình, tự trong thâm tâm mình, một mình mình biết một mình mình hay. Ganh tị, ghen ghét, đố kỵ đó nó cắn rứt, nó nghiến ngấu, nó làm rơi nước mắt giữa đêm khuya, nó gây căm thù buổi sáng sớm, nó tạo hận lòng không thể nói ra, không thể sẻ chia… nó gần như là một « bản năng gốc » ở mỗi con người. Nó sẵn sàng dìm người ta xuống chín tầng địa ngục, âm ỉ đốt cháy niềm vui, làm tan nát cõi lòng mà bề ngoài vẫn phải nói nói cười cười, tỏ ra từ, bi, buông xả !
..
“Hỷ” là lòng vui, tùy hỷ là vui giùm người, vui theo người. Khi thấy người khác hạnh phúc hơn mình, thành công hơn mình, ta vui cho họ, thậm chí trong khi ta thất bại đắng cay, khổ đau chồng chất… Ôi, « tùy hỷ » khó quá chứ ! Làm sao đội banh ta đá thua mà ta hoan hỉ vui theo người thắng trừ phi ta… bán độ !
..
Nhưng tùy hỷ mà thực hiện được thì như một suối nguồn tươi mát chảy mãi trong tâm hồn. Hỷ thực lòng thì không có mặc cảm tự ti, tự tôn. Nó lâng lâng rộng mở. Nó có nụ cười rộng, cái bụng to, chấp nhận tất cả. Vì thế mà ta hiểu tại sao Bồ tát Di Lặc xuất hiện ở phẩm này ! « Tùy hỷ » giúp ta giải thoát tự trong gốc rễ, thứ « món tình » âm thầm mà thâm độc, cắn rứt ta từng phút giây. Thoát ra, là đã đến bến bờ của yêu thương, của hạnh phúc.
..
Từ Bi mà chưa Hỷ Xả thì chưa xong. Cho nên không phải vô cớ mà Pháp Hoa dành cả một phẩm cho Tùy Hỷ, dành hẳn một đoạn mô tả kẻ tùy hỷ thì « mặt sáng, mắt trong, miệng tươi, môi thơm… ».
Không tùy hỷ được thì ta sẽ sống cô độc, sẽ tự mình làm khô héo mình, nỗi khổ cứ đeo bám, không thể đến với niềm vui, hạnh phúc.
Hỷ được nhắc như tấm lòng mẹ cha, nhìn con mình khôn lớn, thành đạt, có cái « vui theo » mà không ganh tỵ, không mong cầu báo đáp. Hỷ do vậy là một niềm vui sâu đậm, tự bên trong. Người ta không thể giả đò hỷ, không thể giả đò hồ hởi, hớn hở, không thể « vui là vui gượng kẻo mà » !
..
TÁC GIẢ: B.S. ĐỖ HỒNG NGỌC
........
(nguồn: trang nhà BS Đỗ Hồng Ngọc)


(N T sưu tầm)


...

Wednesday, May 15, 2013

Ai Về Sông Tương

.NHẠC SĨ GIÁO SƯ ÂM NHẠC NGÔ VĂN GIẢNG (1924 -2013), tác giả của nhiều bản nhạc nổi tiếng, trong đó có bài AI VỀ SÔNG TƯƠNG (có lẽ trong ĐK67 chúng ta ai cũng đã từng nghe, hát, và yêu thích...,) vừa mới qua đời hôm thứ Năm ngày 9 tháng 5 năm 2013, tại Melbourne, bang Victoria, nước Úc, hưởng thọ 89 tuổi.

Để tưởng nhớ người Nhạc sĩ tài ba đáng kính này, mình mời các bạn nghe lại bản nhạc AI VỀ SÔNG TƯƠNG của CỐ NHẠC SĨ VĂN GIẢNG viết vào năm 1949 dưới tên tác giả là THÔNG ĐẠT
.
..
AI V SÔNG TƯƠNG
SAXOPHONE  LÊ TẤN QUỐC
.
 . 

.
.
AI V SÔNG TƯƠNG
.
CA SĨ: THÁI CHÂU
.
.
.
.
TIU S NHC SĨ VĂN GING
..
Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn
Đoàn hùng binh trong sương lướt gió reo vang
Đi đi đi, lời thề nguyền, tung gươm thiêng, thi gan trai
Đời hùng cường quyết chiến đấu đoàn quân ra đi...
..
Trên đây là lời ca 8 trường canh đầu của bài hành khúc "Lục Quân Việt Nam" của Văn Giảng mà mọi người Việt Nam, từ cậu học sinh đến anh tân binh ở quân trường cũng như tất cả quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đều biết. Bài hát được tác giả viết vào năm 1950 với cung Ré trưởng, khi được đồng ca bởi một số đông người, đem lại cho người nghe một cảm giác như hăng say cương quyết, như nung chí anh hùng:
..
... Phá tan tành ầm ầm đoàn quân xông pha
Thét oai linh tung gươm giết tan quân thù
Đoàn hùng binh say sưa nhìn trong trời sương
Ta anh hùng đời đời lục quân Việt Nam...
..
Nhạc sĩ Văn Giảng sinh ngày 12 tháng 5 năm 1924 tại Huế trong một gia đình trung lưu. Thừa hưởng năng khiếu thiên phú gia tộc về âm nhạc vì ông nội của Văn Giảng cũng là một nhạc sĩ cổ nhạc rất giỏi cho nên Văn Giảng cũng có khiếu về âm nhạc từ lúc nhỏ và ngày còn bé, nghe người ta chơi một loại nhạc khí nào là ông có thể về mò mẫm tự học lấy và thành công trong việc xử dụng loại nhạc khí đó. Cũng như mọi người thích âm nhạc và quyết tâm chơi nhạc, loại đàn dễ học nhất cho mọi người là đàn mandoline, nhạc sĩ Văn Giảng cũng vậy, khi bắt đầu ông học đàn măng cầm và sau đó lần đến lãnh vực tây ban cầm.
..
Có một người bạn lớn tuổi hơn ông biết đàn tây ban cầm, Văn Giảng muốn tầm sư học đạo, đến nhà ông này để nhờ chỉ dạy nhưng người này bắt ông phải trả công bằng một cây đàn guitare. Làm gì có tiền ở lứa tuổi còn nhỏ ? Văn Giảng về nhà tìm tòi tự học lấy và chỉ một thời gian sau, ông vượt qua tài nghệ của ông "thầy hụt" kia và ông này phải nhờ Văn Giảng chỉ lại cho. Nhờ có biệt tài như vậy mà nhạc sĩ Văn Giảng có thể xử dụng rành rẽ nhiều nhạc khí cổ kim, trở thành một nhạc sĩ tài giỏi và đào tạo rất nhiều môn sinh có trình độ sau này.
..
Không những chỉ trong lãnh vực âm nhạc mà thôi, nhạc sĩ Văn Giảng còn nổi bật trong lãnh vực văn hóa, mọi thứ, mọi việc ông đều tự học như vừa làm giáo sư âm nhạc ở Huế, ông vừa tự học để rồi sau đó lặn lội vào Saigon thi lấy bằng tú tài và bằng cử nhân.
..
Ông tốt nghiệp Anh văn ở Hội Việt Mỹ và trúng tuyển cuộc thi tuyển sinh viên nghiên cứu về âm nhạc ở ngoại quốc, được xuất dương du học tại trường Âm nhạc lớn của Hoa Kỳ ở Hawaii và Bloomington. Ở Hoa Kỳ, Văn Giảng đã tốt nghiệp với lời khen của Ban Giám khảo và được cấp thêm học bổng để nghiên cứu bậc cao học âm nhạc. Sau đó ông trở về nước và được đề cử làm Giám đốc trường Quốc gia Âm nhạc Huế.
..
Phần đông những sáng tác của nhạc sĩ Văn Giảng thuộc loại hùng ca như "Thúc Quân" (1949), "Lục Quân Việt Nam" (1950), "Đêm Mê Linh" (1951), "Quân Hành Ca" (1951), "Qua Đèo" (1952), "Nhảy Lửa" (1953) v.v... nhưng ít người được biết nhạc sĩ Văn Giảng còn có một biệt hiệu khác là "Thông Đạt" với ca khúc bất hủ "Ai Về Sông Tương" mà mọi người trong giới học sinh, sinh viên và ở lứa tuổi 40 trở lên đều biết:
..
Ai có về bên bến sông Tương
Nhắn người duyên dáng tôi thương
Bao ngày ôm mối tơ vương
Tháng với ngày mơ nhuốm đau thương
Tâm hồn mơ bóng em luôn
Mong vài lời em ngập hương...
..
Bài ca này được tác giả viết vào năm 1949 với cung La trưởng, uyển chuyển tha thướt trong phần lời lãng mạn, trữ tình, là một bản nhạc gối đầu giường, nằm lòng của thanh thiếu niên nam nữ trong những thập niên 50 - 60.
..
Về ca khúc này, có một câu chuyện khá thú vị như sau: Trong những thập niên 1940, 1950, ở Huế ai ai cũng biết ông Tăng Duyệt, giám đốc nhà Xuất bản Tinh Hoa Huế (xin đừng lẫn lộn với nhà xuất bản Tinh Hoa miền Nam ở Saigon do nhạc sĩ Lê Mộng Bảo làm giám đốc) in ấn và phát hành một số nhạc phẩm ít oi của thời đó.
..
Là nhạc sĩ, đương nhiên Văn Giảng chơi thân với ông Tăng Duyệt vì một số hành khúc của ông đều do nhà xuất bản Tinh Hoa Huế của ông Tăng Duyệt ấn hành. Một hôm trong lúc vui miệng, ông Tăng Duyệt có ngụ ý bảo rằng nhạc sĩ Văn Giảng chỉ viết được những bài hùng ca thôi còn về những bài tình ca không phải sở trường của Văn Giảng.
..
Nghe vậy hay vậy, không cần phải trả lời. Nhạc sĩ Văn Giảng về nhà, âm thầm lấy giấy bút viết bài "Ai Về Sông Tương", không ghi tên tác giả là Văn Giảng như mọi khi mà đề tên tác giả là Thông Đạt, một bút hiệu mới toanh trong làng tân nhạc Việt Nam thời đó. Bản "Ai Về Sông Tương" được tác giả Thông Đạt gửi đến các đài phát thanh ở Hà Nội, Huế và Saigon và cả nước đều nghe "Ai Về Sông Tương" của Thông Đạt trong thời gian sau đó:
..
...Thu nay về vương áng thê lương
Vắng người duyên dáng tôi thương
Mối tình tôi vẫn cô đơn
Xa muôn trùng lưu luyến nhớ em
Mơ hoài hình bóng không quên
Hương tình mộng say dịu êm...
..
Sau nhiều lần được nghe bài "Ai Về Sông Tương" quá hay trên làn sóng điện, qua các đài phát thanh, ông Tăng Duyệt gặp Văn Giảng và hỏi ở trong giới nhạc, Văn Giảng có biết Thông Đạt, tác giả bài "Ai Về Sông Tương" là ai không để ông thương lượng mua bản quyền xuất bản nhạc phẩm này nhưng Văn Giảng tảng lờ như không biết Thông Đạt là ai!
..
Rồi một hôm có hai người bạn trẻ của Văn Giảng là nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng, tác giả bài "Mùa Thi" (Thi ơi là thi, sinh mi làm chi, "bay" nghẹn ngào, "bám", ồn áo, buồn vui vì mi) và nhà văn Lữ Hồ tình cờ đến nhà Văn Giảng chơi và thấy bản thảo bài "Ai Về Sông Tương" với tuồng chữ và lối chép nhạc của nhạc sĩ Văn Giảng trong xấp nhạc trên bàn viết nên nói cho ông Tăng Duyệt biết. Ông này mới lái xe ngay tới nhà Văn Giảng và vài ngày sau đó, giới ngưỡng mộ tân nhạc mới có một ca khúc với thể điệu "Blues" tha thướt trong tay để mà ngân nga cho đỡ thương đỡ nhớ những khi trái tim rung động vì một bóng hình nào đó.
..
Nhạc phẩm "Ai Về Sông Tương" đã chiếm kỷ lục tái bản thời đó với 6 lần in thêm trong tháng đầu tiên và được thính giả Đài Phát thanh Pháp Á chọn là bài nhạc hay nhất trong năm 1949. Qua bút hiệu Thông Đạt, chúng ta còn được thưởng thức những sáng tác sau đây: "Đôi Mắt Huyền", "Hoa Cài Mái Tóc", "Tình Em Biển Rộng Sông Dài", "Xin Đừng Chờ Em Nữa" v.v...
..
Ngoài hai bút hiệu trên, Văn Giảng - Thông Đạt còn một bút hiệu thứ ba để sáng tác những bài Phật giáo. Đó là bút hiệu Nguyên Thông được dùng để ghi trên những nhạc phẩm như "Từ Đàm Quê Hương Tôi", "Mừng Đản Sanh", "Ca Tỳ La Vệ", "Vô Thường", "Hoa Cài Áo Lam" v.v...
...
Trong thời gian làm nhạc trưởng Đài Phát thanh Huế và giáo sư âm nhạc tại các trường Trung học Hàm Nghi, Quốc Học và trường Sư phạm đào tạo giáo viên Tiểu học, nhạc sĩ Văn Giảng có sáng tác và ấn hành một tập nhạc dành cho thiếu nhi mang tên :"Hát Mà Học" gồm có 10 ca khúc: Đến Trường, Chơi Ná, Chê Trò Xấu Nết, Mèo Chuột, Tham Mồi, Gương Sáng Lê Lai, Quang Trung Hùng Ca, Trăng Trung Thu, Chúc Xuân và Tạm Biệt.
..
Cũng trong lãnh vực âm nhạc, nhờ xuất thân từ một gia đình có truyền thống âm nhạc, Văn Giảng thích tìm tòi và nghiên cứu nhạc cổ truyền Việt Nam. Năm 1956, ông đã tìm ra phương pháp ký âm cho nhạc sĩ cổ truyền có thể nhìn bài bản mà trình tấu chung với nhạc sĩ tân nhạc và từ đó, ông thành lập ban cổ kim hòa điệu "Việt Thanh", một ban nhạc đầu tiên trong nước dưới hình thức tân cổ hòa điệu với những nhạc khí tranh, tỳ, nhị huyền, nhị hồ, đàn nguyệt... hoà tấu chung với dương cầm, tây ban cầm, đại hồ cầm...
..
Trong phạm vi này, ông đã hoàn thành tác phẩm độc đáo "Ai Đưa Con Sáo Sang Sông", một bản đại hòa tấu, thời lượng 60 phút, trình diễn bởi các nhạc sĩ cổ truyền. Ông cũng đã soạn nhiều sách giáo khoa về âm nhạc, hoàn thành quyển "Kỹ Thuật Hoà Âm" dày 350 trang được dùng làm tài liệu dạy âm nhạc ở các trường.
..
Sau Tết Mậu Thân 1968, cảm thấy sinh sống ở Huế bất an - ông Tăng Duyệt, bạn thân của ông, đã chết trong biến cố này - nhạc sĩ Văn Giảng vào Saigon lập nghiệp từ năm 1969 và ông nhanh chóng hòa hợp với nhịp sống âm nhạc của thủ đô, soạn hòa âm cho hãng đĩa Asia - Sóng Nhạc, dạy nhạc tại trường Quốc gia Âm nhạc Saigon, tham gia sinh hoạt ca nhạc ở đài phát thanh, đài truyền hình.
..
Cũng trong thời gian này, một số nhạc phẩm tình cảm với bút hiệu Thông Đạt của ông được thành hình và tung ra thị trường. Đồng thời, Văn Giảng được Bộ Văn Hóa Giáo Dục đề cử làm Trưởng Phòng Học Vụ Nha Mỹ Thuật, đảm trách học vấn của các trường Âm nhạc Saigon, Huế và các trường Cao đẳng Mỹ thuật.
..
Năm 1970, ông được huy chương vàng giải Văn học Nghệ thuật của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (âm nhạc loại A) với sáng tác phẩm "Ngũ Tấu Khúc" (Quintet for Flute and Strings). Cùng năm này, ông được chỉ định làm Giám đốc Nghệ thuật điều hành Đoàn Văn nghệ Việt Nam gồm 100 nghệ sĩ tân cổ nhạc và vũ, ban vũ do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách, ban vũ cổ truyền đại nội Huế do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba điều khiển, để tham dự Hội chợ Quốc tế Expo 70 tại Osaka (Nhật Bản).
..
Sau 1975, nhạc sĩ Văn Giảng kẹt lại Việt Nam cho đến năm 1981 mới vượt biên đến đảo Natuna (Nam Dương) và sau đó được chuyển đến đảo Pulau Galang. Ở đây, trong 6 tháng, Văn Giảng sáng tác được một số bài nói lên thân phận lạc loài của người dân mất nước mà bài đầu tiên là "Natuna người tình đầu" cùng một số 70 ca khúc khác.
..
Ngày 20/5/1982, Văn Giảng định cư tại Úc, ở đây, ông tiếp tục con đường âm nhạc, soạn và xuất bản nhiều sách nhạc lý như cách dùng hợp âm, tự học tây ban cầm, hòa âm, sáng tác, học hát, học đàn v.v...
..
Ở đây, ông cũng đã sáng tác thêm nhiều tình khúc như: 12 tình khúc (Tập I), 12 Tình Khúc (Tập II) v.v... Những ai thiết tha với tân nhạc, muốn đi sâu, tìm hiểu hơn về sáng tác và hòa âm hoặc muốn trau dồi việc xử dụng các nhạc khí kim cổ, thiết nghĩ không gì bằng tìm các sách giáo khoa của nhạc sĩ Văn Giảng để đi đến nơi đến chốn. Văn Giảng hiện cư ngụ ở thành phố Footscray, bang Victoria (Úc Châu), điện thoại: (03) 9689-9623.
..
Ngoài một gia sản âm nhạc đồ sộ, từ những hành khúc hùng dũng đến những cung bậc uyển chuyển lả lướt của những bài tình ca qua những điệu nhạc vui tươi yêu đời dành cho thiếu nhi và những ca khúc uy nghiêm về Phật giáo, nhạc sĩ Văn Giảng còn đóng góp trong việc phổ biến âm nhạc Việt Nam ở hải ngoại với một số lượng đáng kể về sách dạy nhạc viết bằng Việt ngữ và Anh ngữ, chẳng những dành cho thế hệ trẻ Việt Nam ở hải ngoại mà cho cả người ngoại quốc muốn học hỏi và tìm hiểu về nền âm nhạc Việt Nam.
..
Một con người giản dị, khiêm nhường, không thích phô trương với một gia tài âm nhạc to lớn như thế của mình ẩn náu nơi một góc trời Đông sau ngày mất nước quả thật là một người đáng kính nể, đáng tôn thượng trong làng âm nhạc Việt Nam.
.
(Bài viết của Nhạc sĩ Lê Dinh)
.
(sưu tầm)