Tuesday, May 20, 2014

Mời em về

(Ảnh: Internet)
..
TA BÁN CÀ REM HỀ
..
TÁC GIẢ: TRẦN HOÀI THƯ

Ta đã về ôm những nhánh tang thương
Cúi đầu bước đi giữa lòng phố cũ
Con phố của ta, ruột rà trăm ngõ
Sao bây giờ mỗi khúc mỗi đau

..
Ta đã trở về, bốn năm phù du
Hồn hóa đá, người thành dã thú
Ta dỗ dành ta tai trời ách nước
Thôi đã hết rồi, món nợ tiền khiên

...
Thì tại sao xin một chỗ dung thân
Cố xứ ơi, cây đào trước ngõ
Ngôi nhà ta, trời ơi bỗng lạ
Con đường xưa, thay đổi não nùng
Ngày xưa Từ Thức trở về, hương bưởi bâng khuâng
Đất trời quê hương dễ thương thế đó
Hôm nay ta trở về, đóng vai ông lão
Đi giữa lòng âm phủ trần gian
Ông lão buồn trong tuổi thanh niên
Ngày tháng lửa binh, già hơn quả đất
Sau cuộc chiến tranh làm tên sống sót
Sau cuộc tội tù đi bán cà rem
Ta bán cà rem hề, ta bán cà rem!
Lắc chiếc chuông đồng, khua vang làng xã
Ôi những hồi chuông lâu rồi đã ngủ
Bỗng hôm nay, choàng dậy, ngỡ ngàng
Trên đầu ta, mây trắng thênh thang
Dưới chân ta, vòng xe nhật nguyệt
Chuông đồng leng keng, thay người đào huyệt
Gọi những ma hồn trong buổi đảo điên
Ta đạp qua cầu, qua bến, qua sông
Qua những xóm làng, công trường mồ mả
Chiếc áo trận xanh, sạm mùi khói lửa
Chiếc mũ rơm đan, vương miện tội tù
Ta qua những miền thiên cổ âm u
Ta đập vào thùng, nghêu ngao ca hát
Ta bán cà rem hề, kem đường kem chảy
Thêm kem oan cừu chất ngất miền Nam
Những con đường Nam Bắc Tây Đông
Những trạm mọc lên chó vàng chó sói
Hỡi sợi dây sên, mi là bạn khó
Kết cùng ta những nỗi lênh đênh
Ta bán cà rem hề, thì bán cà rem
Bà con ơi, đừng nhìn ta mà khóc
Ta đang đứng trong chuồng thú vật
Ít ra ta vẫn là một con người
Em bé quê ơi, nghèo lắm, phải không
Lại đây anh tặng em một cây kem chuối
Có phải em là con một người lính ngụy
Nên cuộc đời toàn là những cơn mơ ?
Ôi những tiếng reo giòn, ông già cà rem
Chưa đầy bốn mươi, ta già thế đó
Ta không buồn đâu, tóc ta bạc trắng
Như một ông già chuyện cổ phương Tây
Ông già Noel vào mùa Giáng Sinh
Lắc chiếc chuông đồng phát quà phát bánh
Ta cũng như ông đầu làng cuối xóm
Lắc chiếc chuông đồng, phát cả trái tim
..
Tác giả: TRẦN HOÀI THƯ
.
(Nguồn: www.tranhoaithu.wordpress.com)
...

Sunday, May 18, 2014

VIẾT ĐỜI MÌNH

.
 (hình: Internet) .
VIẾT ÐỜI MÌNH
...
Giả sử có người tặng bạn một cây bút _ một cây bút màu còn phong kín.
...
Bạn không thể thấy được có bao nhiêu mực trong đó. Nó có thể hết mực sau vài dòng viết thử đầu tiên nhưng cũng có thể còn thật nhiều mực đủ để viết nên một (hoặc vài) kiệt tác để lại dấu ấn cho đời mãi mãi. Bạn không hề biết điều đó trước khi đặt bút.
Với luật chơi như vậy. Bạn phải nắm lấy cơ hội!
..
Thực sự, bạn có thể không cần phải thực hiện điều gì theo luật chơi này cả. Thay vì nắm chiếc bút trong tay, bạn có thể đặt nó vào giá hoặc trong ngăn kéo và rồi nó cũng sẽ khô mực mà chưa hề được sử dụng.
...
Nhưng nếu bạn quyết định sử dụng nó, bạn sẽ làm gì với nó. Bạn sẽ chơi trò chơi này như thế nào?
..
Bạn sẽ trù tính và lên kế hoạch trước khi viết ra? Những kế hoạch này có mênh mông quá đến nỗi bạn không thể nào đặt bút chăng?
..
Hay là bạn sẽ viết ngay, để rồi vật lộn với những dòng chữ tuôn tràn cuồn cuộn muôn hướng cuốn hút bạn đi theo?
..
Hoặc giả bạn sẽ viết một cách cẩn trọng, như thể cây bút có thể hết mực ngay, hay bạn sẽ giả vờ tin rằng (hoặc làm ra vẻ tin rằng) cây bút đó sẽ mãi mãi còn mực?
...
Và bạn sẽ viết về Tình yêu hay lòng Thù hận? Hạnh phúc hay Khổ đau? Cuộc sống hay Chết chóc? Viết tất cả mọi điều hay chỉ viết vớ vẩn?
...
Bạn sẽ viết để làm vui cho mình hay làm đẹp lòng người khác? Hay làm vui cho chính mình bằng cách viết cho người khác?
...
Bạn sẽ viết những dòng run rẩy yếu ớt hay đậm nét rực rỡ? Viết giản dị hay hoa mỹ?
Bạn vẫn cứ viết chứ? Một khi bạn có chiếc bút trong tay dù không luật lệ nào bắt bạn phải viết?
...
Bạn sẽ tóm tắt? Sẽ phác thảo? Sẽ viết nguệch ngoạc? Hay viết say sưa?
Bạn sẽ viết ngay ngắn hay viết không theo hàng lối nào cả?
Có thật nhiều điều để cân nhắc phải không?
...
Bây giờ,
Giả sử có người tặng bạn một cuộc sống...
..
Nhị Tường dịch..
..
(sưu tầm)

Wednesday, May 14, 2014

Khoảnh khắc bên ngưỡng lớp

(post lại 8/19/12)
...
Xin giới thiệu một bài viết của bạn Quế Hương (ĐK69) để tưởng nhớ Thầy PHẠM KIÊM ÂU,  cố giáo sư Pháp Văn của trường Nữ Trung Học Đồng-Khánh, Huế.
..
.
.............
...
KHOẢNH KHẮC BÊN NGƯỠNG LỚP
..
Năm tôi học với Thầy Phạm kiêm Âu ở trường Đồng Khánh (Huế) vào niên khoá 1968-1969, Thầy đã khoảng 50, nổi tiếng đệ nhất khó!..
.....
Thời ấy học đệ nhất Ban C(1) Trường Đồng Khánh oai lắm cơ! Trường chỉ có hai lớp Nhất C. C1 Pháp văn, C2 Anh văn. Bảng tên trên ngực áo được viền khung bằng chỉ màu tím, màu quy định cho lớp đàn chị cuối cấp. Tên được viết theo kiểu thư pháp Ban C, fantaisie  hết cỡ. Cặp lấp ló một quyển của Camus, Krisnamurti, Phạm Công Thiện, Françoise Sagan… là hàng phượng sân trường đủ nể rồi! Dân C kỵ nhái mẫu và tụng niệm. Sáng tạo đủ mọi lĩnh vực - từ chữ viết, cách trình bày bài, kiểu mơ mộng… Bài chỉ liếc qua rồi tự diễn đạt. Đứa nào đọc ro ro không sai một chữ được coi như dân tụng, nên qua Ban A. Mỗi tuần lại được nạp vào đầu đến tám giờ Triết với cô giáo vừa đẹp, vừa chịu chơi có thể vượt rào dạy bài Đam Mê hay Mơ Mộng trên bãi cỏ sân trường. Do dung nạp nhiều thứ, tâm hồn đứa nào cũng chếnh choáng, lơ lửng, nửa cõi trên, nửa cõi dưới!..
...
Thế rồi Thầy bước vào lớp, phụ trách môn Pháp văn, sinh ngữ chính của Nhất C1. Cặp to đùng như nhà ngoại giao. Ánh mắt sắc lạnh. Nụ cười rất hóm. Mỗi tuần chúng tôi gặp Thầy sáu giờ. Đấy là sáu giờ mà các philôdốt (2),  văng sĩ, loạn sĩ… của lớp phải trở về đúng vị trí của mình - học sinh lớp đệ nhất Ban C, sắp đối đầu với kỳ thi Tú tài 2 Văn chương nghiệt ngã. Đứa nào cũng có một quyển luận Pháp văn Thầy quay ronéo khổ lớn, dày cộm. Bước vào lớp, cặp chưa đặt xuống bàn, Thầy đã ra lệnh: Écrivez! Thế là cắm đầu cắm cổ trả bài luận văn đã học thuộc lòng trên giấy. Mười lăm phút, chép không kịp thở, do đó phải học nhừ như cháo. C1 trở thành dân tụng giỏi hồi nào không hay!
...
Mọi thứ đều có quy định, cứ thế mà làm. Giấy làm bài soi lên lỗ thủng to hơn cây kim bị trừ 2 điểm. Lề không đúng quy định, trừ. Không lùi đúng ô, trừ. Tên không đóng khung, trình bày bài làm không đúng cách, trừ… Theo răm rắp như luật nhà binh, nếu không sẽ bị trừ điểm tối tăm mặt mũi!
.....
Ngồi cũng như đóng đinh vào chỗ. Thầy đưa cho lớp trưởng một mảnh giấy manh trên vạch một đường ngăn thành hai dãy. Thầy ở bên phải. Dưới Thầy 4 bàn, 17 chỗ. Bên trái 5 bàn, 18 chỗ. Mỗi đứa tự dán vào chỗ của mình một tấm ảnh nhỏ, ghi tên, ký hẳn hoi. Dưới hai dãy chân dung là tên trường, lớp, niên khoá học. Mảnh giấy ấy được chụp, sang thành 36 tấm ảnh, mỗi đứa một tấm, còn Thầy giữ một. Bao nhiêu lớp dạy bấy nhiêu tấm ảnh như thế. Khuôn mặt trò thay dổi còn Thầy thì không, vẫn cái ảnh chụp vào tuổi băm, áo vét thắt cà vạt, kính dày cộm nhìn xuống lớp.
..
Tấm ảnh ấy vẫn còn trong album tôi. Thầy vẫn mãi ở tuổi băm. Chúng tôi mãi ở tuổi 18. Năm tháng qua đi, bụi thanh xuân gió cuốn nhưng Thầy đã kịp giữ cho chúng tôi một mảnh thời gian đẹp nhất.
..
Thầy tôi kỵ nhất là chuyện đi trễ. Đã đi học là phải đúng giờ. Mùa đông Huế mưa dầm dề, cầu Trường Tiền dài lê thê, gió quất, mưa tạt, đạp xe ngược gió liêu xiêu muốn bay xuống sông Hương. Tôi phải đi sớm thêm 10 phút để khỏi trễ giờ. Thế mà có lần vừa đi được một quãng, chiếc xe đạp giở chứng trật sên. Hì hục đến đen thui tay, vẫn không được. Hoảng quá, tôi gởi đại một nhà gần đó đón xe buýt lên chợ Đông Ba. Đến chợ Đông Ba phải sang xe Từ Đàm mới ngang qua Trường Đồng Khánh. Cầm chắc trễ nhưng tôi không dám trở về vì có giờ kiểm tra của Thầy. Hôm ấy trời rất rét. Răng tôi cứ va vào nhau lập cập, một phần vì lạnh, một phần vì sợ… Hú vía, lọt qua cánh cổng trường trống mới điểm. Từ cổng vào lớp khá xa, tôi ôm cặp chạy bởi trống đánh là Thầy đứng lên ngay sải bước. Tôi cắm đầu cắm cổ chạy đến nỗi va cái rầm vào một người. Ngước mắt lên, tôi chạm phải cặp kính cận, cái cặp của nhà ngoại giao, cái áo dạ to đùng… Chỗ va lại là cửa lớp.
...
 "Mấy cô cứ xô tui mà chạy, hễ tui đặt chân lên cửa lớp mà học trò chưa vô là coi như … absent (3)" ! Học trò đi sau Thầy có đứa lấy cặp che mặt phóng ù qua Thầy để được vào lớp. Còn tôi đang đối mặt với Thầy ở ngưỡng lớp. Và tôi run… Một bước chân nữa là vào được lớp. Nhưng phải lách qua Thầy, phải chạm vào Thầy. Khái niệm xô tui mà chạy làm tôi hoảng. Dưới mắt tôi, bóng Thầy cao quá, to quá choáng gần hết cửa lớp. Tôi đứng chôn chân. Thầy cũng đứng yên nhìn tôi chờ đợi. Một phút hay hai phút không biết nữa nhưng với tôi dài lắm. Rồi hai cái chân cùng cử động. Thầy bước tới, qua cửa lớp. Tôi bước lui, ra hành lang. Écrivez! - giọng Thầy cất lên rồi những ngòi bút của các bạn tôi rào rào như mưa rơi trên giấy. Mưa cũng rơi trên mặt tôi…
..
Tôi ôm cặp đi ra bãi cỏ sau trường. Đêm qua, tôi đã thức thật khuya để học thuộc đến từng dấu phẩy bài luận Pháp văn. Tôi đã tháo giấy trắng làm bài dịu dàng đến nỗi lổ thủng còn bé hơn cả cây kim. Tôi đã quẳng xe ở nhà người lạ không biết còn hay mất. Tôi đã đổi hai lần xe buýt, trái tim gần văng ra ngoài. Thế mà chừ ngồi ở bãi cỏ. Trút xong nước mắt, tôi bỗng nhẹ lòng. Khoảng trời trên đầu xanh tha thiết. Tôi bỗng nhận ra sau mưa trời như trút được gánh nặng, trong vắt. Cỏ dưới chân mượt đến mềm lòng. Hai hàng cây bạch đàn trên đường Anh - đường Em (4) chụm đầu thủ thỉ hoài không dứt. Mãi đến lúc sắp chia tay, tôi mới nhận ra ngôi trường mình học bảy năm dài đẹp đến từng góc xó!
...
Sau lần chạm mặt ở ngưỡng cửa lớp hôm ấy, tôi có cảm tưởng ánh mắt Thầy nhìn con bé nhút nhát ngồi bàn đầu là tôi dịu hơn, thân thiết hơn. Đôi mắt không lời nhưng tôi hình dung đủ mọi thứ lời nói với tôi. Năm học trôi qua vèo vèo. C1 giờ đã quen với luật nhà binh của Thầy. Tụng cũng giỏi không thua chi dân A. Chúng tôi thích những giờ littérature française Thầy dạy, những câu chuyện Thầy kể. Chúng tôi nghe say mê cuộc đời của vợ chồng nhà bác học Pierre và Marie Curie - người đã trải bao gian khó để tìm ra chất phóng xạ, về vẻ đẹp của vịnh Hạ Long… Thầy có tài kể chuyện và giúp những tâm hồn vốn đã mơ mộng của C1 thăng hoa. Những câu chuyện kể của Thầy bao giờ cũng gieo vào đầu óc chúng tôi khát vọng làm việc và tình yêu cuộc sống. Thầy cho chúng tôi kiến thức và cả quy tắc sống, làm việc. Đâu vào đó. Quy củ. Nguyên tắc. Cứng thật đấy nhưng không lạnh. Như mặt trong của bàn tay - ấm áp, mềm mại, rối rắm yêu thương.
...
Khi tôi đã là cô giáo, có một lần tôi gặp Thầy đi bộ một mình trên đường Chi Lăng. Tôi cúi đầu thưa Thầy. Thầy hỏi chuyện tôi. Ánh mắt vẫn sắc sảo. Nụ cười vẫn hóm. Trước khi đi, Thầy bỗng nhìn tôi nói: Tính cách quyết định số phận, con ạ!... Thầy đi, bóng ngã liêu xiêu, nhưng đối với tôi vẫn sừng sững to lớn như ngày nào ở ngưỡng cửa lớp.
...
Thầy mất đã gần mười năm. Cô học trò nhút nhát, nhỏ nhắn, lặng lẽ năm nào giờ cũng đã ở tuổi Thầy ngày ấy. Năm tháng qua đi nhưng có những khoảnh khắc ở lại. Về lại trường cũ, đi qua hành lang, tôi vẫn nghe vọng tiếng chân, giọng nói Thầy. Trên ngưỡng lớp cũ, tôi vẫn thấy Thầy và mình đứng đó.
..
Tác giả: Quế Hương ĐK69
...
(1)  Ban Văn chương, sinh ngữ có hệ số cao. Năm đệ nhất học thêm môn Triết
(2) Nhại từ philosophe (triết gia)
(3) vắng
(4) Học sinh gọi con đường nhỏ giữa hai trường Quốc Học và Đồng Khánh...
..
.

Saturday, May 10, 2014

Mother's Day 2014

..
..
..
NGUỒN GỐC LỄ MOTHER'S DAY
...
Cách đây gần 100 năm, Anna Jarvis đã vận động chính phủ Hoa Kỳ thành lập một ngày lễ để tri ân những người mẹ. Để cổ động cho việc này bà đã viết bài đăng báo, thuyết trình tại các nhà thờ, gởi thư cho các viên chức chính phủ. Trước tấm lòng và sự kiên trì của bà, ngày 8 tháng 5 năm 1914, Tổng Thống Woodrow Wilson đã ban hành một sắc lệnh chọn ngày Chúa Nhật thứ hai của tháng Năm làm ngày Mother’s Day. Kể từ đó, hằng năm không phải chỉ tại Hoa Kỳ mà hàng tỷ người tại hơn 65 quốc gia trên thế giới đã chọn ngày này để tôn kính người mẹ. Hơn một chục quốc gia khác cũng chọn một ngày khác trong tháng Năm để tri ân mẫu thân....
..
Nguồn Gốc
...
Ann Maria Reeves Jarvis, mẹ của Anna Jarvis, là một phụ nữ đáng kính. Bà là nguồn động lực khiến cho con gái của bà là Anna Jarvis vận động để thiết lập ngày Mother’s Day. Cuộc đời của Ann Maria Reeves Jarvis đánh dấu bằng những chuỗi ngày yêu thương chồng con, góp phần cho Hội Thánh và tận tụy với công tác xã hội
....
Ann Maria Reeves Jarvis sinh ngày 30/9/1832 tại Culpeper, Virginia. Bà là con gái của Mục sư Josiah W. Reeves và bà Nancy Kemper Reeves. Năm 1850, sau khi cha của bà được thuyên chuyển đến làm mục sư cho Hội Thánh Tin Lành Giám Lý tại Philippi thuộc Barbour County, West Virginia, Ann đã lập gia đình với Granville Jarvis, con trai của một mục sư Baptist tại thị trấn này. Theo gương của hai người cha, Granville Jarvis cũng trở thành mục sư và hầu việc Chúa trong Hội Thánh Tin Lành Giám Lý...
Ann Maria Reeves Jarvis đã giúp chồng rất nhiều trong những năm tháng chồng bà phục vụ Chúa. Bà làm giáo viên Trường Chúa Nhật dạy các em thiếu nhi suốt 25 năm. Bà đã hổ trợ cho chồng trong việc xây dựng nhà thờ cho Hội Thánh Andrews Methodist Church tại Grafton, West Virginia (1873). Ann sinh cho chồng 12 người con. Do hoàn cảnh y tế vệ sinh trong thế kỷ 19, bốn người con mất từ những ngày thơ ấu, bốn đứa khác chết khi chưa đến tuổi trưởng thành...
..
Từ những kinh nghiệm đau thương mất mát trong gia đình, Ann Maria Reeves Jarvis không muốn thấy cảnh tang tóc xảy ra trong những gia đình khác. Vấn đề thiếu y tế và vệ sinh là nguyên nhân khiến nhiều trẻ em bị mất sớm. Khi theo chồng thuyên chuyển từ nơi này sang nơi khác để phục vụ Chúa, bà đã thành lập Câu Lạc Bộ Các Bà Mẹ tại các thành phố Webster, Grafton, Fetterman, Pruntytown và Philippi nhằm cải thiện những điều kiện vệ sinh và sức khỏe trong các gia đình. Các câu lạc bộ này gây quỹ mua thuốc giúp người nghèo, kiểm soát thực phẩm và sữa mà các tiệm tạp hóa bán cho người dân, mướn người giúp con cái các bà mẹ bị bệnh lao...
....
Khi cuộc nội chiến Hoa Kỳ xảy ra, Ann Maria Reeves Jarvis kêu gọi Câu Lạc Bộ Các Bà Mẹ đứng trung lập về mặt chính trị. Họ cứu chữa thương binh cả hai bên. Bà cũng kêu gọi các cộng đồng giữ sự hiệp nhất giữa những khác biệt chính trị trong thời nội chiến. Ann Maria Reeves Jarvis vận động thành lập “Mother’s Friendship Day” – ngày tương thân của các bà mẹ – với mục đích tạo sự hiệp nhất giữa những gia đình đã chia rẽ vì những khác biệt đã xảy ra trong chiến tranh. Ann Maria Reeves Jarvis ước mong cơ hội thân hữu này sẽ được tổ chức hằng năm và sẽ là dịp để tưởng nhớ các bà mẹ. Tuy nhiên, những cố gắng đó của bà không thành, Ann Maria Reeves Jarvis về với Chúa vào ngày 9/5/1905 tại Bala-Cynwyd, Philadelphia...
...
Vận Động Thành Lập Lễ Mother’s Day
..
Cũng trong khoảng thời gian đó tại New York (1872), Julia Ward Howe, tác giả của bản thánh ca The Battle Hymn of the Republic, công bố Mother’s Day Proclamation. Dưới sự vận động của Julia Ward Howe, Mother’s Day được tổ chức tại Boston được khoảng 10 năm rồi ngưng.
...
Marie Jarvis, con gái của Ann Maria Reeves Jarvis, là người rất gắn bó với mẹ mình. Sau khi Ann Maria Reeves Jarvis mất, Anna Jarvis tiếp tục vận động để thành lập ngày Mother’s Day theo ước nguyện của mẹ.
...
Ngày 12/5/1907, Anna Jarvis cùng những người thân từ Philadelphia trở về Andrews Methodist Church tại Grafton, West Virginia, là hội thánh nơi cha bà từng làm mục sư, mẹ bà đã dạy Trường Chúa Nhật để tưởng niệm người mẹ là bà Ann Maria Reeves Jarvis. Anna Jarvis trình bày với hội thánh, nơi cha mẹ bà đã gây dựng nhà thờ, ước nguyện của mẹ mình về việc thành lập Mother’s Day. Với sự ủng hộ các bà mẹ trong các hội thánh và sự giúp đỡ của John Wanamaker, cựu Tổng Giám Đốc Bưu Điện Hoa Kỳ, ý nguyện về việc thành lập ngày tưởng nhớ và tri ân các bà mẹ được loan truyền. Sau đó, Anna Marie Jarvis tiếp tục vận động bằng nhiều cách để ngày tri ân các bà mẹ được trở thành ngày lễ chính thức
..
Tháng Năm năm 1908, một lễ kỷ niệm Mother’s Day chính thức được tổ chức tại nhà thờ Andrews Methodist Church. Sau đó, một buổi lễ mở rộng cho công chúng được tổ chức tại Wanamaker Auditorium tại Philadelphia. Năm 1909, lễ Mother’s Day được tổ chức tại New York. Năm 1910, Tiểu bang West Virginia chính thức công nhận lễ Mother’s Day. Sau đó, các tiểu bang khác lần lượt công nhận ngày lễ này. Ngày 8/5/1914, Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua một đạo luật công bố Chúa Nhật thứ hai của tháng Năm là ngày Mother’s Day. Từ đó, Mother’s Day trở thành ngày lễ chính thức trên toàn nước Mỹ.
..
(sưu tầm)
..
....
.
(Nguồn: Internet)
.

Tuesday, April 29, 2014

Ngụm Cà phê tháng tư

Trương Mỹ-Vân (ĐK 67) sưu tầm
.
.......
.....
..
NGỤM CÀ PHÊ THÁNG TƯ
..
TÁC GIẢ: TRẦN MỘNG TÚ
Ta ngồi một mình
ly cà phê cạn
lòng như tháng tư
Đứt ra từng đoạn

..
Tháng tư, tôi ngồi trong quán cà phê Starbucks trên đường 20th của thành phố tôi cư trú. Tôi cúi xuống nhìn mầu cà phê đen đặc, sóng sánh sót lại một ngụm trong chiếc ly giấy. Tôi cầm chiếc ly chao nhẹ đi một chút, do dự chưa muốn ngửa cổ uống nốt ngụm cuối cùng. Ngụm cà phê trông như ngụm nước mắt đen. Chao ôi nước mắt đã có một lúc nào đó, ta ngửa cổ uống được cả ngụm hay sao !
Tháng tư, tháng tư, tháng tư năm đó! Đứt ra từng đoạn: đoạn cha, đoạn mẹ, đoạn vợ, đoạn chồng, đoạn con, đoạn anh, chị, em, đoạn bạn hữu. Mỗi đoạn đứt một chỗ, rơi một nơi, đoạn mất đi ngút ngàn biệt tích, không để lại dấu vết, đoạn còn sót lại ngơ ngẩn, mù lòa.
Tháng tư của ba mươi bẩy năm sau, ngụm nước mắt không bao giờ cạn được.
Tôi ngồi trong quán một mình. Ngó những khuôn mặt lạ, họ không phải bạn bè, nhưng vẫn thấy thân thuộc, vì đó là những khuôn mặt của dân bản xứ tôi gặp thường ngày. Cách ăn mặc và lối cư xử của họ na ná giống nhau. Mình nhìn mấy chục năm, mình quen với cách kéo ghế, cách chụm đầu vào nhau nói khe khẽ, cách nghiêng mình xin lỗi của họ khi phải đi qua mặt ai, nên bỗng trở thành gần gũi.
Tự ngậm ngùi tưởng tượng, nếu bây giờ mình ngồi ở trong một quán cà phê ở Việt Nam, ngắm những người ngồi chung quanh, chắc chắn mình sẽ thấy lạc lõng lắm, vì cách ăn mặc và cư xử rất khác mình. Họ cũng sẽ chẳng để mắt nhìn đến mình, một kẻ thường thường trên mọi phương diện. Mình lạc lõng ngay chính trên quê mình.
..
Ngồi một mình với ly cà phê Starbucks trong một ngày của tháng tư, quê người; tôi chỉ nhìn ra mình là người lạ với chính mình. Cúi nhìn mấy ngón tay đang cầm ly, những ngón tay gầy đã bắt đầu xanh xao gân lá, biết mình ở đây lâu lắm rồi. Đôi vai bỗng trĩu nặng như có bàn tay ai vô hình ấn xuống ghế. Thôi, đã đến đây rồi, thì ngồi xuống đây, còn đi đâu được nữa. Ngồi đây mà hồn như thác đổ, tiếng nước ầm ầm vọng tới từ một ký ức xa xôi, rồi bỗng òa ra khi chạm vào tảng đá cuối cùng, tảng đá tháng tư.
Tháng tư ở đây là mùa xuân, chim chóc rủ nhau bay vào thành phố, hoa đào nở hồng trên mỗi con đường, nắng mới lách mình vào những khung cửa mở, trong vườn nhà ai hoa táo, hoa lê trắng xóa. Những người Việt di tản như tôi, tháng tư không ít thì nhiều quay đầu nhìn lại quá khứ, nhớ lại những giọt nắng quê nhà năm đó hòa vào máu và nước mắt. Hoa nắng quê người chỉ làm gợi thêm nỗi xót xa.
Anh ạ tháng tư mềm nắng lụa / hoa táo hoa lê nở trắng vườn / quê nhà thăm thẳm sau trùng núi / em mở lòng xem lại vết thương.
Chung quanh tôi, một vài bàn nhỏ có người ngồi trước tách cà phê và cái laptop. Họ im lặng làm việc, học hay sáng tác. Có người với một tờ báo mở trước mặt, hay hai người bạn thì thào nho nhỏ. Quán tĩnh mịch, nghe được cả tiếng gõ khe khẽ của những ngón tay chạm trên bàn phím, thậm chí cả tiếng thở của người ngồi ở bàn gần mình.
Tôi ngồi với ly cà phê cạn. Tôi biết trang mạng của người Việt khắp nơi trên thế giới, vào mỗi tháng tư họ cũng trao đổi cho nhau trên khung hình nhỏ: những tấm hình đang bốc lửa, những khẩu súng đang nhả đạn.Tiếng người đang khóc, đang la vang, đang chạy hoảng loạn, đang giẫm lên nhau. Tiếng súng nổ, tiếng kêu thất thanh….Tất cả hiện ra trên khung hình nhỏ.
Trong một tiệm cà phê ở Mỹ. Tôi ngồi đó, ngửa mặt uống ngụm cà phê đen cuối cùng. Bỗng dưng má tôi ươn ướt. Nước mắt ứa ra từ hai con mắt, bờ mi đã bắt đầu sụp xuống như hai chiếc lá cuốn khô. Nước mắt của một người di tản vì chiến tranh lâu quá rồi, xót xa cho phận mình, phận người, phận quê hương đất nước.
Ba mươi bẩy năm rồi, mà thỉnh thoảng vẫn đọc được ở trên mạng, lẫn vào những bài vở giải trí, kiến thức hay nghệ thuật, những lời nhắn với nội dung thật buồn: Một hài cốt với tên họ, ngày sinh và số quân đầy đủ của một quân nhân VNCH, ai đó vừa tìm được bên đường. Mong có thân nhân đến nhận. Nào ai biết thân nhân của bộ xương đó còn sống hay đã chết? Tin đó đến từ Việt Nam và đã chuyển đi nhiều lần.
Tin những người ở Mỹ về bốc mộ, một hố chôn tập thể của binh sĩ VNCH trong một sân trường hay bên cạnh một con mương. Tin cả trăm bộ xương tìm thấy ở ven biển miền Trung không biết của bên này hay bên kia. Rồi còn cả những tin như sĩ quan H.O qua đời ở Mỹ không có thân nhân, được những người trong cộng đồng phụ nhau mai táng. Lời nhắn về một vị tá Hải Quân, có con ở Cali. Xác nằm trong bệnh viện Texas hai tuần rồi. Cha qua đời, con ở đâu chưa đến nhận.
Những dòng chữ như thế, thực sự là một “Tin Buồn” với ý nghĩa đúng nhất của nó.
Tháng Tư là tháng tôi sợ đọc, sợ xem hình trên mạng. Sợ nhìn lại những hình ảnh và đọc lại những bài viết kinh hoàng của những nạn nhân vượt biển; hình ảnh nghĩa trang quân đội bị đập phá trong tủi nhục; những câu chuyện thương tâm của tù nhân và nhà tù cải tạo; Sợ phải xem lại những hình ảnh của một thành phố mình đã sống và lớn lên bị tàn phá bởi chiến tranh; sợ những bức hình và tên tuổi, binh nghiệp của các tướng lãnh tự sát vào ngày cuối cùng, tôi sợ mỗi khi đọc thêm một danh sách tự vận của các cấp tá, cấp úy, các hạ sĩ quan. Họ tự sát riêng lẻ hay có khi cùng với vợ con. Những bức hình im lìm đó là những tiếng gào thét phẫn nộ của những anh hùng VNCH. Tôi không nhớ là mình đã đọc được câu này ở đâu: “Thật đáng thương cho một đất nước nào có quá nhiều anh hùng” vì anh hùng đồng nghĩa với hy sinh và cái chết.
Đau đớn nhất là bao giờ khi xem hình, khi đọc những bài viết xong, cuối cùng mình nhận thức rất rõ rệt: đó là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Người giết và người bị giết đều mang họ Nguyễn, họ Lê, họ Trần…
Ba mười bẩy năm rồi, người ta nói là Việt Nam đã hết chiến tranh, người dân đã có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nhưng trên mạng, người Việt trong và ngoài nước vẫn có những dòng chữ gửi đến cho nhau mang theo những thông điệp thật buồn: Việt Nam tôi đâu? Người dân mất nhà, mất đất. Gái Việt bán sang Đài Loan. Gái Việt xếp hàng lấy chồng Đại Hàn. Không có Tự Do cho Việt Nam. Ngư dân Việt bị tầu Trung Quốc bắt ngay trên biển của mình. Nước Việt âm thầm mất dần từng mảnh cho Trung Quốc….
Tháng tư, cà phê đắng, đắng thêm khi pha vào những giọt nước mắt vì nước mắt bao giờ cũng có muối ở trong. Nỗi đau tháng tư với một số đông người Việt ở thế hệ bạn hữu tôi, là một vết thương không thành sẹo được, nó lên da non, rồi ngưng lại ở đó. Nhìn xuống vẫn thấy màu hồng, vẫn thấy như còn rơm rớm máu.
Tôi cúi xuống nhìn chiếc ly không, tự lấy tay áo lau thầm những giọt nước mắt mình. Đứng dậy, trở về một nơi tôi gọi là nhà, tiếp tục sống với trái tim di tản.
Vạt nắng tháng tư chỉ bay xiên vào trong quán này một năm một lần, nhưng khi tôi đến đây, dù bất cứ tháng nào trong năm, hồn tôi, tháng tư có thể đến bất chợt ghé xuống và rơi cùng những giọt cà phê.
Anh ạ tháng tư sương mỏng lắm / sao em nhìn mãi chẳng thấy quê / hay sương thành lệ tra vào mắt / mờ khuất trong em mọi nẻo về.
..
Tác giả: Trần Mộng Tú
(Nguồn: Trang VănHọcNguồnCội)...
.
M V (Vancouver) sưu tầm
.

..

Monday, April 28, 2014

xem tranh TTM

(BÀI SƯU TẦM)
..
XEM TRANH THÂN TRỌNG MINH
.
Võ Công Liêm Nhận Định
.)
...
..TRANH THÂN TRỌNG MINH
 ‘Mặt Nhìn Mặt /Face to Face’.
Khổ 12’ X 15’ Oil trên giấy. 12/2012. Bản tác giả ký tặng vcl SGN 3/2014   
...
Một trong những điều tôi ghi nhận ở Thân Trọng Minh là ngữ ngôn trong tranh của anh. Lần đầu tiên đối thoại, tôi nhận thức được sự chia sẻ qua từ ngữ của người vẽ – from the first conversation we had, I was aware of the shared vocabulary of the painter. Đó là cái nhìn chứng minh giữa họa sĩ và người xem tranh. Một ghi dấu trong tôi với một không khí ấm cúng (warm air) một không gian trong sáng (clear space) nằm sau một con hẻm nhỏ THĐ, Sàigòn. Ở đây Thân Trọng Minh trải rộng tấm lòng của một người nghệ sĩ đúng cách, một tinh thần không pha trộn tạp nham giữa đời thường. Trung thực ở chỗ đó. Họ Thân có một chiều dài quá trình nghệ thuật – nhất là hội họa – anh giải thích ngắn gọn; nghĩa là không phô diễn một thoả mãn nào nơi cái ‘tôi’, anh chỉ tỏa ra một sự bằng lòng riêng anh, mặc dầu bên anh là một bề bộn ngổn ngang; chi tiết hóa phương cách hoạt động làm việc là một cái bàn bày biện đủ mọi thứ, cái ‘mixed’ đó là ảnh hưởng phần nào sắc màu ở trí tuệ của một người yêu vẽ.

Ta Về

(post lại)
........
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi..
(Tô Thùy Yên)
.....

...........
..TA VỀ
...
Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay
...
Vĩnh biệt ta mười năm chết dấp
Chốn rừng thiêng ỉm tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ
..
Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay
...
Chỉ có thế trời câm đất nín
Ðời im lìm đóng ván xanh xao
Mười năm thế giới già trông thấy
Ðất bạc màu đi đất bạc màu
...
Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ
...
Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy ghi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm cổ lục đã ai ghi?
...
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi.
...
Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng.
..
Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới uống
Giải oan cho cuộc biển dâu này.
....
Ta khóc trả ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức mong buồn tận cõi xa
..
Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển đời
Bé bỏng thì cũng sinh, dị, diệt
Tội tình chi lắm nữa người ơi
...
Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ
Mười năm người tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm bèo mây hỡi
Ðành uống lưng thôi bát nước mời
...
Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng
Dừng chân nghe quặn thắt tâm can.
...
Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài cõi nhớ
Mười năm ta vẫn cứ là ta
...
Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ mừng còn nguyên mái, vách
Nhện giăng, khói ám, mối xông nền
....
Mọi thứ không còn ngăn nắp cũ
Nhà thương-khó quá sống thờ ơ
Giậu nghiêng, cổng đổ, thềm um cỏ
Khách cũ không còn khách mới thưa
.....
Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi
...
Chiều nay ta sẽ đi thơ thẩn
Thăm hỏi từng cây những nỗi nhà
Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở?
Mười năm, cây có nhớ người xa?
...
Ta về như đứa con phung phá
Khánh kiệt đời trong cuôc bể dâu
Mười năm, con đã già trông thấy
Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu
...
Con gẫm lại đời con thất bát
Hứa trăm điều một chẳng làm nên
Ðời qua lớp lớp tàn hư huyễn
Giọt lệ sương thầm khóc biến thiên
....
Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển đã chờ sông
....
Ta gọi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu
Ta về như máu ân tình chảy
Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau
...
Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Ðau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối khóc thâu đêm
...
Cây bưởi xưa còn nhớ trắng hoa
Ðêm chưa khuya quá hỡi trăng tà
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Thức trọn, khuya từng nỗi xót xa
....
Ta về như giấc mơ thần bí
Tuổi nhỏ đi tìm một tối vui
Trăng sáng soi hồn ta vết phỏng
Trọn đời nỗi nhớ sáng khôn nguôi
....
Bé ơi, này những vui buồn cũ
Hãy sống đương đầu với lãng quên
Con dế vẫn là con dế ấy
Hát rong bờ cỏ giọng thân quen
...
Ta về như nước Tào khê chảy
Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ
Thân thích những ai giờ đã khuất
Cõi đời nghe trống trải hơn xưa...
....
Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Ðâu còn ai nữa đứng bờ ao
Khóc người, ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc ôi ngày một một hao
...
Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh
...
Ngồi đây nền cũ nhà hương hỏa
Ðọc lại bài thơ thuở thiếu thời
Ai đó trong hồn ta thổn thức
Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi
...
Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thuở trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Ðành không trải hết được lòng ta..
..
(thơ Tô Thùy Yên)
..
.
(N T sưu tầm)