Saturday, December 29, 2012

Câu chuyện Bát Mì

Hoàng Ngọc Ấn (ĐK67, C2) sưu tầm
..


....
CÂU CHUYỆN BÁT MÌ
..
Đây là một câu chuyện có thật, chúng tôi gọi là “Câu chuyện bát mì”.

...
Chuyện xảy ra cách đây khoảng năm mươi năm vào ngày 31/12, một ngày cuối năm tại quán mì Bắc Hải Đình, đường Trát Hoảng, Nhật Bản. 
Đêm giao thừa, ăn mì sợi đón năm mới là phong tục tập quán của người Nhật, cho đến ngày đó công việc làm ăn của quán mì rất phát đạt. 
Ngày thường, đến chạng vạng tối trên đường phố hãy còn tấp nập ồn ào nhưng vào ngày này mọi người đều lo về nhà sớm hơn một chút để kịp đón năm mới. 
Vì vậy đường phố trong phút chốc đã trở nên vắng vẻ. 
Ông chủ Bắc Hải Đình là một người thật thà chất phát, còn bà chủ là một người nhiệt tình, tiếp đãi khách như người thân.
Đêm giao thừa, khi bà chủ định đóng cửa thì cánh cửa bị mở ra nhè nhẹ, một người phụ nữ trung niên dẫn theo hai bé trai bước vào. đứa nhỏ khoảng sáu tuổi, đứa lớn khoảng 10 tuổi. 
Hai đứa mặc đồ thể thao giống nhau, còn người phụ nữ mặc cái áo khoác ngoài lỗi thời. 
- Xin mời ngồi! 
Nghe bà chủ mời, người phụ nữ rụt rè nói: 
- Có thể… cho tôi một… bát mì được không?
Phía sau người phụ nữ, hai đứa bé đang nhìn chăm chú. 
- Đương nhiên… đương nhiên là được, mời ngồi vào đây. 
Bà chủ dắt họ vào bàn số hai, sau đó quay vào bếp gọi to: 
- Cho một bát mì. Ba mẹ con ngồi ăn chung một bát mì trông rất ngon lành, họ vừa ăn vừa trò chuyện khe khẽ với nhau.
 “Ngon quá” – thằng anh nói.
 - Mẹ, mẹ ăn thử đi – thằng em vừa nói vừa gắp mì đưa vào miệng mẹ.
Sau khi ăn xong, người phụ nữ trả một trăm năm mươi đồng. 
Ba mẹ con cùng khen: “Thật là ngon ! Cám ơn !” rồi cúi chào và bước ra khỏi quán. 
- Cám ơn các vị ! 
Chúc năm mới vui vẻ – ông bà chủ cùng nói. 
....
Công việc hàng ngày bận rộn, thế mà đã trôi qua một năm. 
Lại đến ngày 31/12, ngày chuẩn bị đón năm mới. 
Công việc của Bắc Hải Đình vẫn phát đạt. So với năm ngoái, năm nay có vẻ bận rộn hơn. 
Hơn mười giờ, bà chủ toan đóng cửa thì cánh cửa lại bị mở ra nhè nhẹ.
Bước vào tiệm là một người phụ nữ dẫn theo hai đứa trẻ. 
Bà chủ nhìn thấy cái áo khoác lỗi thời liền nhớ lại vị khách hàng cuối cùng năm ngoái. 
- Có thể… cho tôi một… bát mì được không? 
- Đương nhiên… đương nhiên, mời ngồi ! 
Bà chủ lại đưa họ đến bàn số hai như năm ngoái, vừa nói vọng vào bếp: 
- Cho một bát mì. 
Ông chủ nghe xong liền nhanh tay cho thêm củi vào bếp trả lời: 
- Vâng, một bát mì! Bà chủ vào trong nói nhỏ với chồng: 
-Này ông, mình nấu cho họ ba bát mì được không? 
- Không được đâu, nếu mình làm thế chắc họ sẽ không vừa ý.  
Ông chủ trả lời thế nhưng lại bỏ nhiều mì vào nồi nước lèo, ông ta cười cười nhìn vợ và thầm nghĩ : “Trông bà bề ngoài khô khan nhưng lòng dạ cũng không đến nỗi nào!

......
;;....
Ông làm một tô mì to thơm phức đưa cho bà vợ bưng ra. .
Ba mẹ con ngồi quanh bát mì vừa ăn vừa thảo luận.
Những lời nói của họ đều lọt vào tai hai vợ chồng ông chủ quán.
- Thơm quá!
- Năm nay vẫn được đến Bắc Hải Đình ăn mì thật là may mắn quá!
- Sang năm nếu được đến đây nữa thì tốt biết mấy!
Ăn xong, trả một trăm năm mươi đồng, ba mẹ con ra khỏi tiệm Bắc Hải Đình.
- Cám ơn các vị ! Chúc năm mới vui vẻ!
Nhìn theo bóng dáng ba mẹ con, hai vợ chồng chủ quán thảo luận với nhau một lúc lâu.
....
Đến ngày 31/12 lần thứ ba, công việc làm ăn của Bắc Hải Đình vẫn rất tốt, vợ chồng ông chủ quán bận rộn đến nỗi không có thời gian nói chuyện.
Đến 9g30 tối, cả hai người đều cảm thấy trong lòng có một cảm giác gì đó khó tả.
Đến 10 giờ, nhân viên trong tiệm đều đã nhận bao lì xì và ra về.
Ông chủ vội vã tháo các tấm bảng trên tường ghi giá tiền của năm nay là “200đ/bát mì” và thay vào đó giá của năm ngoái “150đ/bát mì”.
Trên bàn số hai, ba mươi phút trước bà chủ đã đặt một tờ giấy “Đã đặt chỗ”.
Đúng 10g30, ba mẹ con xuất hiện, hình như họ cố chờ khách ra về hết rồi mới đến.
Đứa con trai lớn mặc bộ quần áo đồng phục cấp hai, đứa em mặc bộ quần áo của anh, nó hơi rộng một chút, cả hai đứa đêu đã lớn rất nhiều.
- Mời vào! Mời vào! – bà chủ nhiệt tình chào đón.
Nhìn thấy khuôn mặt tươi cười của bà chủ, người mẹ chậm rãi nói:
- Làm ơn nấu cho chúng tôi…hai bát mì được không? -
Được chứ, mời ngồi bên này ! Bà chủ lại đưa họ đến bàn số hai, nhanh tay cất tờ giấy “Đã đặt chỗ” đi, sau đó quay vào trong la to: “Hai bát mì”
- Vâng, hai bát mì. Có ngay.
Ông chủ vừa nói vừa bỏ ba phần mì vào nồi.
Ba mẹ con vừa ăn vừa trò chuyện, dáng vẻ rất phấn khởi.
Đứng sau bếp, vợ chồng ông chủ cũng cảm nhận được sự vui mừng của ba mẹ con, trong lòng họ cũng cảm thấy vui lây.
- Tiểu Thuần và anh lớn này, hôm nay mẹ muốn cảm ơn các con!
- Cảm ơn chúng con? Tại sao ạ?
 Chuyện là thế này: vụ tai nạn xe hơi của bố các con đã làm cho tám người bị thương, công ty bảo hiểm chỉ bồi thường một phần, phần còn lại chúng ta phải chịu, vì vậy mấy năm nay mỗi tháng chúng ta đều phải nộp năm mươi ngàn đồng.
- Chuyện đó thì chúng con biết rồi -- đứa con lớn trả lời.
Bà chủ đứng bên trong không dám động đậy để lắng nghe.
- Lẽ ra phải đến tháng ba năm sau chúng ta mới nộp hết nhưng năm nay mẹ đã nộp xong cả rồi!
- Hả, mẹ nói thật đấy chứ?
- Ừ, mẹ nói thật. Bởi vì anh lớn nhận trách nhiệm đi đưa báo, còn Tiểu Thuần giúp mẹ đi chợ nấu cơm làm mẹ có thể yên tâm làm việc, công ty đã phát cho mẹ một tháng lương đặc biệt, vì vậy số tiền chúng ta còn thiếu mẹ đã nộp hết rồi.
- Mẹ ơi! Anh ơi! Thật là tốt quá, nhưng sau này mẹ cứ để con tiếp tục nấu cơm nhé.
- Con cũng tiếp tục đi đưa báo. Tiểu Thuần chúng ta phải cố gắng lên!
- Mẹ cám ơn hai anh em con nhiều!
- Tiểu Thuần và con có một bí mật chưa nói cho mẹ biết.  Đó là vào một ngày chủ nhật của tháng mười một, trường của Tiểu Thuần gửi thư mời phụ huynh đến dự một tiết học. Thầy giáo của Tiểu Thuần còn gửi một bức thư đặc biệt cho biết bài văn của Tiểu Thuần đã được chọn làm đại diện cho Bắc Hải đảo đi dự thi văn toàn quốc. Con nghe bạn của Tiểu Thuần nói mới biết nên hôm đó con đã thay mẹ đến dự.
- Có thật thế không? Sau đó ra sao?
- Thầy giáo ra đề bài: “Chí hướng và nguyện vọng của em là gì?” Tiểu Thuần đã lấy đề tài bát mì để viết và được đọc trước tập thể nữa chứ. Bài văn được viết như sau: “Ba bị tai nạn xe mất đi để lại nhiều gánh nặng. Để gánh vác trách nhiệm này, mẹ phải thức khuya dậy sớm để làm việc”. Đến cả việc hàng ngày con phải đi đưa báo, em cũng viết vào bài nữa. Lại còn: “Vào tối 31/12, ba mẹ con cùng ăn một bát mì rất ngon. Ba người chỉ gọi một tô mì, nhưng hai vợ chồng bác chủ tiệm vẫn cám ơn và còn chúc chúng tôi năm mới vui vẻ nữa. Lời chúc đó đã giúp chúng tôi có dũng khí để sống, khiến cho gánh nặng của ba để lại nhẹ nhàng hơn.”  Vì vậy Tiểu Thuần viết rằng nguyện vọng của nó là sau này mở một tiệm mì, trở thành ông chủ tiệm mì lớn nhất ở Nhật Bản, cũng sẽ nói với khách hàng của mình những câu như: “Cố gắng lên ! Chúc hạnh phúc ! Cám ơn !”....
Đứng sau bếp, hai vợ chồng chủ quán lặng người lắng nghe ba mẹ con nói chuyện mà nước mắt lăn dài.
- Bài văn đọc xong, thầy giáo nói: anh của Tiểu Thuần hôm nay thay mẹ đến dự, mời em lên phát biểu vài lời.
- Thật thế à? Thế lúc đó con nói sao?
- Bởi vì quá bất ngờ nên lúc đầu con không biết phải nói gì cả, con nói: “Cám ơn sự quan tâm và thương yêu của thầy cô đối với Tiểu Thuần. Hàng ngày em con phải đi chợ nấu cơm nên mỗi khi tham gia hoạt động đoàn thể gì đó nó đều phải vội vả về nhà, điều này gây không ít phiền toái cho mọi người. Vừa rồi khi em con đọc bài văn thì trong lòng con cảm thấy sự xấu hổ nhưng đó là sự xấu hổ chân chính. Mấy năm nay mẹ chỉ gọi một bát mì, đó là cả một sự dũng cảm. Anh em chúng con không bao giờ quên được… Anh em con tự hứa sẽ cố gắng hơn nữa, quan tâm chăm sóc mẹ nhiều hơn. Cuối cùng con nhờ các thầy cô quan tâm giúp đỡ cho em con.”
Ba mẹ con nắm tay nhau, vỗ vai động viên nhau, vui vẻ cùng nhau ăn hết tô mì đón năm mới rồi trả 300 đồng, nói câu cám ơn vợ chồng chủ quán, cúi chào và ra về. Nhìn theo ba mẹ con, vợ chồng ông chủ quán nói với theo:
 - Cám ơn! Chúc mừng năm mới !
...
Lại một năm nữa trôi qua.
Bắc Hải Đình vào lúc 9g tối, bàn số hai được đặt một tấm giấy “Đã đặt chỗ” nhưng ba mẹ con vẫn không thấy xuất hiện.
Năm thứ hai rồi thứ ba, bàn số hai vẫn không có người ngồi.
Ba mẹ con vẫn không thấy trở lại.
Việc làm ăn của Bắc Hải Đình vẫn như mọi năm, toàn bộ đồ đạc trong tiệm được thay đổi, bàn ghế được thay mới nhưng bàn số hai thì được giữ lại y như cũ.
“Việc này có ý nghĩa như thế nào?”
Nhiều người khách cảm thấy ngạc nhiên khi nhìn thấy cảnh này nên đã hỏi. Ông bà chủ liền kể lại câu chuyện bát mì cho mọi người nghe.
Cái bàn cũ kia được đặt ngay chính giữa, đó cũng là một sự hy vọng một ngày nào đó ba vị khách kia sẽ quay trở lại, cái bàn này sẽ dùng để tiếp đón họ.
Bàn số hai “cũ” trở thành “cái bàn hạnh phúc”, mọi người đều muốn thử ngồi vào cái bàn này.
Rồi rất nhiều lần 31/12 đã đi qua. Lại một ngày 31/12 đến.
Các chủ tiệm lân cận Bắc Hải Đình sau khi đóng cửa đều dắt người nhà đến Bắc Hải Đình ăn mì.
Họ vừa ăn vừa chờ tiếng chuông giao thừa vang lên.
Sau đó, mọi người đi bái thần, đây là thói quen năm, sáu năm nay.
Hơn 9g30 tối, trước tiên vợ chồng ông chủ tiệm cá đem đến một chậu cá còn sống.
Tiếp đó, những người khác đem đến nào là rượu, thức ăn, chẳng mấy chốc đã có khoảng ba, bốn chục người.
Mọi người rất vui vẻ. Ai cũng biết lai lịch của bàn số hai.
Không ai nói ra nhưng thâm tâm họ đang mong chờ giây phút đón mừng năm mới.
Người thì ăn mì, người thì uống rượu, người bận rộn chuẩn bị thức ăn…
Mọi người vừa ăn, vừa trò chuyện, từ chuyện trên trời dưới đất đến chuyện nhà bên có thêm một chú nhóc nữa.
Chuyện gì cũng tạo thành một chuỗi câu chuyện vui vẻ. Ở đây ai cũng coi nhau như người nhà.
Đến 10g30, cửa tiệm bỗng nhiên mở ra nhè nhẹ, mọi người trong tiệm liền im bặt và nhìn ra cửa.
Hai thanh niên mặc veston, tay cầm áo khoác bước vào, mọi người trong quán thở phào và không khí ồn ào náo nhiệt trở lại.
Bà chủ định ra nói lời xin lỗi khách vì quán đã hết chỗ thì đúng lúc đó một người phụ nữ ăn mặc hợp thời trang bước vào, đứng giữa hai thanh niên.
Mọi người trong tiệm dường như nín thở khi nghe người phụ nữ ấy nói chầm chậm:
- Làm ơn… làm ơn cho chúng tôi ba bát mì được không?  
Gương mặt bà chủ chợt biến sắc.
Đã mười mấy năm rồi, hình ảnh bà mẹ trẻ cùng hai đứa con trai chợt hiện về và bây giờ họ đang đứng trước mặt bà đây.
Đứng sau bếp, ông chủ như mụ người đi, giơ tay chỉ vào ba người khách, lắp lắp nói:
- Các vị… các vị là…
Một trong hai thanh niên tiếp lời:
- Vâng! Vào ngày cuối năm của mười bốn năm trước đây, ba mẹ con cháu đã gọi một bát mì, nhận được sự khích lệ của bát mì đó, ba mẹ con cháu như có thêm nghị lức để sống. Sau đó, ba mẹ con cháu đã chuyển đến sống ở nhà ông bà ngoại ở Tư Hạ. Năm nay cháu thi đỗ vào trường y, hiện đang thực tập tại khoa nhi của bệnh viện Kinh Đô. Tháng tư năm sau cháu sẽ đến phục vụ tại bệnh viện tổng hợp của Trát Hoảng. Hôm nay, chúng cháu trước là đến chào hỏi bệnh viện, thuận đường ghé thăm mộ của ba chúng cháu. Còn em cháu mơ ước trở thành ông chủ tiệm mì lớn nhất Nhật Bản không thành, hiện đang là nhân viên của Ngân hàng Kinh Đô. Cuối cùng, ý định nung nấy từ bao lâu nay của chúng cháu là hôm nay, ba mẹ con cháu muốn đến chào hỏi hai bác và ăn mì ở Bắc Hải Đình này.
..
Ông bà chủ quán vừa nghe vừa gật đầu mà nước mắt ướt đẫm mặt.
Ông chủ tiệm rau ngồi gần cửa ra vào đang ăn đầy miệng mì, vội vả nhả ra, đứng dậy nói:
 - Này, ông bà chủ, sao lại thế này?
Không phải là ông bà đã chuẩn bị cả mười năm nay để có ngày gặp mặt này đó sao ? Mau tiếp khách đi chứ. Mau lên!
Bà chủ như bừng tỉnh giấc, đập vào vai ông hàng rau, cười nói:
- Ồ phải… Xin mời! Xin mời! Nào bàn số hai cho ba bát mì.
Ông chủ vội vàng lau nước mắt trả lời:
- Có ngay. Ba bát mì.
.. 
..
Thật ra cái mà ông bà chủ tiệm bỏ ra không có gì nhiều lắm, chỉ là vài vắt mì, vài câu nói chân thành mang tính khích lệ, động viên chúc mừng..
Có người nhận xét rằng : “Đọc xong câu chuyện này không ai không rơi nước mắt.”
Đây chỉ là lời nhận xét mang tính phóng đại một chút nhưng nó không phải là không thực tế.
Quả thật, nhiều người đọc xong câu chuyện đã phải rơi lệ, chính sự quan tâm chân thành và lòng nhân hậu trong câu chuyện đã làm cho họ phải xúc động...

(Hoàng Ngọc Ấn, C2 sưu tầm)......
.

Sunday, December 23, 2012

Giáng Sinh 2012: Huyền thoại trẻ thơ

..
HUYỀN THOẠI TRẺ THƠ 
.
Tác giả: Delia Ephron
Người dịch: Trương Mỹ-Vân (ĐK67) ..
......
Lời người dịch: Truyện này được dịch từ nguyên tác "Coping with Santa Claus" của Delia Ephron, một văn sĩ hiện đại Mỹ với tác phẩm thành công nhất là tập tiểu luận "Funny Sauce" (1982) thuật lại cuộc sống với hai người con riêng của chồng bà lúc chúng còn bé...
...
Tháng mười năm ấy Julie vừa đúng tám tuổi và với mùa Giáng Sinh gần kề, hình ảnh ông già Noel ngày càng ám ảnh tâm trí cô bé. Trước Noel một tuần, đêm nào Julie cũng bảo bố:
- Con biết ai mang quà Noel đến cho con rồi. Bố chứ ai!
Rồi ngưng lại một giây, cô bé tiếp: - Phải không bố? Jerry, chồng tôi, không trả lời vì cả chàng và tôi đều không hiểu Julie có muốn biết sự thật không. Chúng tôi mơ hồ đoán có lẽ Julie muốn biết rõ ông già Noel có thật hay chỉ là huyền thoại nhưng không tìm ra câu trả lời. Chẳng lẽ lại bảo Julie:
- Có con ạ. Ông già Noel hiện diện trong tâm hồn chúng ta và thể hiện qua tình thương trong ngày lễ Noel đó con.
Nói như vậy nghe rỗng tuếch và đầy sáo ngữ. Thật tình tôi hơi hận Julie vì bắt chúng tôi phải trả lời câu hỏi khó khăn. Sự thật về ông già Noel lẽ ra nên do bạn bè Julie mách bảo thì hơn vì Julie có đám bạn gái thường hay thì thầm với nhau những điều bí mật của chúng. Dạo tôi bằng tuổi Julie, chính chị tôi đã lén vào phòng đánh thức tôi dậy đêm Giáng Sinh và bảo tôi: "Dậy mà xem ai mang quà đến đặt dưới cây Noel kìa!"
Vả lại ngay cả Jerry và tôi đều không muốn phá tan huyền thoại về ông già Noel. Chính chàng và tôi đã nhắc Julie và em trai Adam nhớ để dĩa bánh ngọt trên bàn, phòng nửa đêm ông già Noel đói bụng. Trước khi đi ngủ, chúng tôi cẩn thận dập tắt lửa trong lò sưởi để ông già Noel khỏi bị phỏng lúc leo xuống ống khói. Trước đó mấy tuần, chúng tôi đã dọa hai chị em Julie và Adam là phải ngoan ngoãn mới được ông già Noel cho quà đêm Giáng Sinh. Tất cả những điều này làm hình ảnh ông già Noel càng thêm hấp dẫn và huyền bí. Trong đầu óc ngây thơ của trẻ con, hình ảnh ông già Noel phương phi với bộ râu bạc trắng như tuyết đang cưỡi đoàn xe do bầy tuần lộc kéo trong bầu trời đông giá buốt để đến từng nhà phát quà bánh và đồ chơi cho trẻ con đêm Noel là huyền thoại đáng yêu nhất trong tuổi thơ vô tư của chúng. Vì thế tôi không nỡ phá tan hình ảnh kỳ diệu này, và cả Jerry lẫn tôi đều không tìm ra câu trả lời mỗi lần Julie thắc mắc với câu hỏi thường xuyên của cô bé.
..
Đêm Noel, Julie mang lại một mảnh giấy con với hàng chữ "Nếu ông già Noel có thật thì hãy ký tên vào đây", và bảo tôi đây là lá thư cô bé viết cho ông già. Julie còn cẩn thận bắt Jerry, Adam và tôi viết trên tờ giấy hàng chữ "Ông già Noel" để cô bé so sánh với chữ ký thật của ông già, đề phòng trường hợp chúng tôi chơi xấu, giả mạo chữ ký của ông già để đánh lừa cô bé. Jerry và tôi đều ký tên "Ông già Noel", còn Adam mới năm tuổi, chỉ nguệch ngoạc được vài chữ nên được miễn. Julie gấp tư tờ giấy, đề tên ông già Noel và đặt bức thư trước lò sưởi, bên cạnh dĩa bánh ngọt dành cho ông.
..
Mãi đến khuya Julie và Adam mới chịu đi ngủ. Jerry và tôi lặng lẽ mang đống quà đặt dưới gốc cây thông, xong chúng tôi nhìn bức thư của Julie và không biết giải quyết cách nào. Một lúc sau, chúng tôi đồng ý để Jerry viết tháu hàng chữ nghiêng ngã "Mừng Chúa Giáng Sinh - Ký tên, ông già Noel" trên bức thư của Julie. Xong xuôi, chàng xếp tờ giấy đặt vào chỗ cũ trước lò sưởi và không quên ăn hết hai chiếc bánh ngọt dành cho ông già.
..
Sáng hôm sau lúc chưa đến sáu giờ, tuy còn nằm trên giường tôi đã nghe tiếng reo hò của hai chị em dưới lầu cùng tiếng mở quà sột soạt. Bỗng nhiên Julie hét lên:
- Ông già Noel có thật! 
Rồi cô bé chạy vào phòng chúng tôi la lớn:
- Ông già Noel có thật! Ông đến đây tối qua và ký tên vào đây nè!
Tôi không ngờ Julie phản ứng như vậy vì cứ tưởng cô bé thế nào cũng nghi ngờ hỏi bố "Có thật không hả bố?" Nhưng Julie đã ôm chặt bức thư vào lòng, vội vã chạy xuống mớ đồ chơi đang chờ cô bé dưới lầu.
..
Suốt ngày hôm đó, gia đình tôi bận rộn vì bạn bè tấp nập đến thăm, tặng quà và chúc tụng nhau nên chẳng mấy chốc đã đến tối. Trước khi đi ngủ, Julie hỏi bố:
- Bố ơi, nếu ông già Noel có thật thì con hươu kéo xe cho ổng, tên Rudolph với cái mũi đỏ cũng có thật phải không bố?
Jerry sửng sốt không nói được lời nào nên Julie lặp lại câu hỏi lần nữa. Jerry thong thả đáp:
- Bố nghe rồi.
Chàng ngồi xuống bên giường Julie, cố gắng tìm câu trả lời trong lúc cô bé im lặng chờ đợi. Cuối cùng, Jerry thú thật:
- Chính bố đã ký tên "Ông già Noel" đó con ạ.
Bỗng dưng Julie bật khóc nức nở khiến Jerry vội vàng xin lỗi vì đã đánh lừa cô bé. Chàng lặp đi lặp lại "Bố xin lỗi con" trong khi Julie vẫn vùi đầu vào gối ấm ức khóc. Jerry bảo Julie rằng chàng biết điều chàng làm là sai, là không nên đánh lừa cô bé, và lẽ ra chàng nên trả lời thẳng cho cô bé biết ngay từ đầu. 
Julie ngồi thẳng dậy và đáp với giọng đầy trách móc:
- Vậy mà con cứ tưởng đâu là ông già Noel có thật chứ!
Rồi cô bé với tay lấy quyển truyện khôi hài bằng tranh trên đầu giường và hỏi bố:
- Bố cho con đọc truyện vài phút trước khi ngủ được không bố?
- Được chứ. Jerry đáp
Thế là câu chuyện chấm dứt. Một phút trước Julie còn khóc nức nở vì thất vọng với huyền thoại ông già Noel nhưng chỉ một phút sau mọi chuyện trở lại bình thường như cũ.
...............
Jerry và tôi nhẹ nhõm trở về phòng. Một lúc sau, nghe tiếng Adam khóc, tôi đi về phòng cậu bé. Cửa phòng hé mở và tôi nghe giọng nói đầy vẻ già dặn của Julie:
- Ôi! Hơi đâu mà khóc cho mệt, Adam. Chỉ có bọn con nít mới tin là có ông già Noel thôi.
.........
..
Trương Mỹ-Vân, ĐK 67 (B3-C1) dịch..
..
.. ...
ĐÊM GIÁNG SINH NƠI MIỀN TUYẾT TRẮNG
Nhạc:  Thanh Trang
Tiếng hát: Tô Hà
..
.......
.
..

Wednesday, December 19, 2012

Răng chưa về thăm Huế?

.. 
..
...........
RĂNG CHƯA VỀ THĂM HUẾ?
..
Nhớ Huế răng chưa về thăm Huế
Thăm mẹ già, thăm lại bạn bè xưa
Ngôi trường xưa mái nâu hồng, phượng đỏ
Phố xa xưa có hẹn đến bao giờ?
..
Nhớ Huế răng chưa về thăm Huế
Con đường xưa ngập nắng lụa đi về
Áo tím ngày xưa bao lần bỡ ngỡ
Bạn ngày xưa hay thiếu nữ - bà già?
..
Nhớ Huế răng không về thăm Huế
Để tình xưa thương nhớ đến bao giờ
Để bạn xưa nhìn nhau thời trẻ dại
Lòng hắt hiu chút kỷ niệm dại khờ?
..
Nhớ Huế rứa sẽ về thăm Huế chứ?
Cho Đông Ba, Gia Hội bớt ngỡ ngàng
Cho Đập Đá, Thanh Long mừng hội ngộ
Và cho lòng thôi hối tiếc ngàn sau.
..
N. M. T.
...
(Trương Mỹ-Vân ĐK 67 sưu tầm).....

Monday, December 17, 2012

7-year-old-conductor

..
Xin giới thiệu cùng các bạn:
..
Edward Yudenich
..7-Year-Old-Conductor..
OVERTURE TO "THE BATS"
J. STRAUSS
....
.
.

Thursday, December 13, 2012

hoa Phong Lan

(post lại)
.......
........
HOA PHONG LAN - BIỂU TƯỢNG VẺ ĐẸP VÀ SỰ QUÝ PHÁI
...
(Bạch Lan sưu tầm)
...
Hoa lan, hay phong lan, cây hoa lan, cây bông lan, cây lan... (tên khoa học: Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Măng tây, lớp thực vật một lá mầm. Họ Orchideceae là một trong những họ lớn nhất của thực vật và có các thành viên mọc trên toàn thế giới, ngoại trừ châu Nam Cực; có cây hoa lan sống dưới mặt đất và chỉ nở hoa trên mặt đất cũng như có cây hoa lan sống tại vùng cao nguyên của dãy Himalaya; hoa lan có thể tìm thấy tại các vùng có khí hậu nhiệt đới như trong rừng già của Brasil đến các vùng có tuyết phủ trong mùa đông như tại bình nguyên của Manitoba, Canada; hoa lan có loại mọc trong đất (terrestrial), có loại mọc trên cây cao (epiphyte) và có loại mọc trên đá (lithophyte).

Hoa lan được người tiêu dùng ưa chuộng vì vẻ đẹp đặc sắc và các hình thức đa dạng của chúng. Cũng giống như cây lan, hoa lan hầu như có tất cả các màu trong cầu vồng và những kết hợp của các màu đó. Hoa lan nhỏ nhất chỉ bằng hạt gạo trong khi hoa lan lớn nhất có đường kính khoảng 1 m. Tuy đa số các loại hoa lan tìm thấy trên thị trường thường không có hương thơm, có rất nhiều loại hoa lan có mùi. Vanilla là một loại hoa lan mà hương thơm được dùng trong các loại ẩm thực của thế giới và có nguồn gốc từ Mexico; trong khi đó có các loại hoa lan tỏa ra mùi như thịt bị hỏng để hấp dẫn các côn trùng.....
.....
Sự tích hoa Phong Lan
...
Ở một miền xa xôi, khí hậu ấm áp và đất đai trù phú có một bộ lạc tên là Aruaki may mắn hơn các bộ lạc khác vì họ sai khiến được loài chim Oócchít chuyên đẻ những quả trứng bằng vàng. Khi một con chim đẻ trứng vào tổ trong hốc cây thì thủ lĩnh Nato dùng tay chuyển quả trứng đó sang một cái cây khác, và sự kiện đó được coi như một ngày hội lớn.

Các cô gái của thủ lĩnh thay nhau phục trên các cành cây, bảo vệ tổ chim khỏi bị chim ưng phá hoại. Tuy vậy, trong từng góc buôn làng, các trai tráng tay cầm những mũi tên tẩm thuốc độc đứng canh giữ không cho các chiến binh của bộ lạc khác đến đánh chiếm kho báu của bộ lạc mình.

Từ ngày quả trứng vàng kia, những tay thợ lành nghề đã chế tạo ra các vòng tay, hoa tai và đủ các loại trang sức. Số trứng vàng dự trữ mỗi ngày một nhiều đồ dùng khác. Đàn ông của bộ lạc chuyên nghề săn bắn, còn đám đàn bà, con gái ở nhà dệt những tấm khăn voan, đan giỏ và hái nhặt thảo quả.

Một hôm cánh đàn ông đi săn trở về với một tâm trạng đầy lo lắng. Họ đã chạm trán cánh thợ săn của một bộ lạc xa lạ. Cánh thợ lạ này đã kể cho họ nghe về những chiến thuyền khổng lồ đã cập bờ biển, và về những con người tóc cắt ngắn, mặt mũi trắng trẻo nom rất lạ lùng, đã đặt chân lên đất liền. Những kẻ da trắng này rất hám vàng, đã dùng một loại súng có tai khạc ra những mũi tên có lửa khủng khiếp, cướp giật vòng chân, vòng tay của chị em, tra khảo dân bản xứ nơi có vàng. Nếu những người Aruaki hiểu rằng, con người cũng có thể biến thành những kẻ tàn ác, thấp hèn, thì chắc chắn không bao giờ họ lại cho phép kẻ lạ mặt kia vào làng bản của họ. Nhưng họ không hiểu được điều đó. Họ vẫn cứ khiêng những người thợ săn lạ mặt bị gấu đánh bị thương vào làng. Vị thủ lĩnh còn ra lệnh cho đám phụ nữ đi tìm những người bị thương, còn cánh đàn ông lại lên đường đi săn.

Một kẻ lạ mặt có tên là Khơramooi Métvét. Anh ta rất mê những đồ trang sức của phụ nữ và cứ gặng hỏi họ kiếm ở đâu thứ đá vàng làm ra được các loại vòng và hoa tai này. Nhưng chị em chỉ trả lời bằng một nụ cười. Dần dà, Métvét kết thân được với cô gái cả con của thủ lĩnh tên là Dincadơvin, và hứa hẹn sẽ cưới nàng làm vợ rồi ở lại với bộ lạc. Dincadơvin nói rằng nàng phải chờ đợi cha trở về để xin ý kiến.

Métvét bắt đầu làm công việc dò hỏi Dincadơvin về việc tại sao chị em nàng cứ thỉnh thoảng lại biến vào rừng sâu và ở đó làm gì. Còn Dincadơvin đã tự cho mình là vợ chưa cưới của Métvét rồi, bởi vậy nàng đã phạm sai lầm còn lớn hơn cả sai lầm của cha nàng cho phép đưa kẻ lạ mặt bị thương vào buôn làng.

Dincadơvin không hề ngờ rằng, người tình của nàng đã bán linh hồn cho bọn da trắng để lấy một thùng rượu, và còn hứa với họ sẽ tiết lộ bí mật của bộ lạc Aruaki? Và thế là sau khi biết chắc chị em nàng thường thay nhau phục trên cây, bảo vệ bầy chim đẻ trứng vàng, Métvét liền chuốc rượu cho những người canh gác say mèm, rồi thông báo điều bí mật cho bọn da trắng biết.

Métvét không hay rằng trên đỉnh một ngọn cây cao nhất còn có chàng Ôta Te đang phóng tầm mắt quan sát khắp vùng gần xa. Anh đã phát hiện ra có những người da trắng đang đến gần nơi con chim đẻ trứng vàng mà người dẫn đầu là Métvét. Sau khi loan báo cho buôn làng hay về mối nguy hiểm đang đe doạ và về sự phản trắc của Métvét, anh liền đóng chuông báo động.

Dincadơvin đau đớn thốt lên :


-
 Ôi, cớ sao ta lại tiết lộ cho chàng bí mật của loài chim? Thảo nào mà chàng cứ căn vặn ta! - Rồi nàng quay lại hỏi ông thầy cúng - Hãy chỉ cho ta biết ta phải làm gì và làm thế nào để cứu loại chim đẻ trứng vàng?

- Cô cô cô! - Tiếng thầy cúng thốt lên, có nghĩa là "Cứ sẵn sàng đi!"

Hết thảy đàn bà và con gái chạy đến, cùng đáp to: "Khô!"

Điều đó có nghĩa là: "Chúng tôi đã sẵn sàng!"

- Hỡi các cô gái! Hãy nhanh chóng trèo lên ngồi vào các cành cây! Khi đó bọn da trắng sẽ không biết được chim làm tổ trên cây nào. Còn nếu chúng tìm thấy tổ chim thì Taxan-útke sẽ chạy đi tìm những người thợ săn, gọi họ về đuổi bọn da trắng đi.

Taxan-útke, tên thường gọi của con Ngựa chiến, phi như bay về phía những người đàn ông của bộ lạc đang mải săn bắn, còn hàng trăm cô gái khác thì vội vàng lao lên cây, tay ôm chặt lấy các cành cây.

Métvét dẫn đoàn người da trắng vào rừng, nhưng hắn lúng túng không biết nên chỉ vào cây nào. Bọn da trắng nổi giận, bắn những mũi tên có lửa vào các cô gái, nhưng các cô, kể cả các cô đã chết, vẫn ôm chặt các cành cây.

Khi cánh đàn ông chạy về tới buôn làng, đuổi được bọn da trắng đi thì đã quá muộn - những người con ưu tú - những cô gái đẹp của họ đã chết. Ông thầy cúng trỏ tay lên trời, gọi tên họ và nói:

- Các con đã xả thân bảo vệ kho báu của bộ lạc ta, các con xứng đáng được ban thưởng. Tâm hồn các con sẽ biến thành những bông hoa ngát hương, chúng sẽ không ngừng sinh sôi trên các cành cây kia và sẽ kể lại cho các thế hệ mai sau về chiến công bảo vệ loài chim mỏ vàng của các con.

Những bông hoa tuyệt vời và đủ loại tựa như các cô gái của bộ lạc Aruaki đang đua nở trên các cành cây.

Người đời nay gọi đó là hoa Oóckhiđêa - hay là hoa Phong Lan. 
......
............
Bạch Lan (ĐK67, B4, C1) sưu tầm.....

Wednesday, December 12, 2012

Đông về

.
ĐÔNG VỀ
..
Về từ đôi tay lạnh giá 
Lóng ngóng trong sớm sương mờ 
Về từ bàn chân trượt ngã 
Bên thềm đẫm giọt mưa khuya 
Về từ cành khô gầy guộc 
Trơ cành lá rụng cuối Thu 
Và về trong hơi sương giá 
Của những ngày xanh mịt mù 
Mùa đông trong găng tay ấm 
Để nghe một chút nồng nàn 
Mùa đông trong vòng tay ấm 
Để nghe thương hương mùa sang 
Mùa đông đêm dài ngày vắn 
Thời gian như thể vội vàng 
Một sớm mai bừng thức giấc 
Mờ sương tưởng chưa ngày sang
...
Tiểu Muội
(11/28/12)
........
Breathless - Kenny G
..

Tuesday, December 4, 2012

Vợ tôi bị ung thư

..
.VỢ TÔI BỊ UNG THƯ

Tác giả: Lê Tấn Phước
..
Tác giả nguyên là luật sư hành nghề tại Việt Nam trước năm 1975, qua Mỹ năm 1980. Ông hiện là Regional Manager cho Le’s Enterprises tại Honolulu, Hawaii. Lê Tấn Phước đã từng tham gia mục Viết Về Nước Mỹ với bài "Tôi Hiến Tủy" trước đây."
..
***
"Chào Bác Sĩ! Bác Sĩ khỏe không"" Tôi vừa chào vừa đưa tay ra bắt khi thấy Bác Sĩ Aaberg bước vào phòng.
"Tôi thấy không khỏe," Bác Sĩ Aaberg đưa mắt nhìn nhà tôi rồi nói tiếp, "vì có tin không tốt cho bệnh nhân của tôi."
Vừa nghe vị bác sĩ nói xong, tim tôi như đập hụt một nhịp. Ngày hôm nay vợ chồng tôi đến để bác sĩ thông báo kết quả xét nghiệm nhà tôi có bị ung thư hay không. Tôi bồn chồn hồi hộp suốt cả buổi sáng nhưng cố làm tỉnh để nhà tôi khỏi lo sợ. Bây giờ nghe bác sĩ nói có tin không tốt cho nhà tôi, tôi như muốn nghẹn thở.
*
Số là vài tháng trước đây, vợ chồng tôi cùng với gia đình một người bạn thân đi du lịch vùng biển Địa Trung Hải bằng du thuyền. Cuộc đi chơi đang rất thú vị thì bỗng dưng nhà tôi đi tiểu bị ra máu. Tôi đoán là nhà tôi bị nhiễm trùng vì nhà tôi cũng đã từng bị nhiễm trùng đường tiểu một lần, và đã ngưng ra máu liền tức thì sau khi dùng thuốc kháng sinh. Nhưng lần nầy sau khi dùng thuốc kháng sinh vẫn còn thấy máu trong nước tiểu của nhà tôi; lúc đầu máu ra đỏ cả bồn cầu, vài ngày sau thì nhạt dần, nhạt dần, rồi hết hẳn. Chúng tôi lại đoán là có lẽ nhà tôi bị sạn thận; sạn thận đã gây chảy máu khi nó di chuyển. Chúng tôi vẫn tham gia hết cuộc du hành dù nhà tôi không còn thấy vui vẻ và thoải mái như trước; còn tôi thì không yên tâm khi không biết được chính xác nguyên nhân nào đã làm cho nhà tôi đi tiểu bị ra máu.
Sau khi về lại Hawaii, tôi đưa nhà tôi đi khám bác sĩ. Bà bác sĩ gia đình cũng đoán là nhà tôi bị nhiễm trùng nên cho nhà tôi uống thuốc kháng sinh, đồng thời bà gửi nhà tôi đến một bác sĩ chuyên môn để khám thận. Bác Sĩ Randall Aaberg là vị bác sĩ chuyên môn về khoa tiết niệu tại Moanalua Medical Center của bệnh viện Kaiser tại Hawaii. Ông đã thử nước tiểu và chụp hình thận cho nhà tôi, nhưng không thấy sạn. Cuối cùng ông rọi soi bên trong bàng quang của nhà tôi thì thấy có hai cục bướu bằng hai hạt đậu phụng nằm sát nhau bên trong thành của bàng quang. Ông đoán là hai cục bướu nầy đã vỡ ra khiến cho nước tiểu có máu. Bác Sĩ Aaberg lấy hẹn cho nhà tôi trở lại bệnh viện lần sau để cắt hai cục bướu đưa đi xét nghiệm, nhưng trước khi cắt, nhà tôi phải đi chụp hình để coi hai cục bướu có mọc ra bên ngoài bàng quang không.
Trong thời gian chờ đợi, vợ chồng tôi vẫn sinh hoạt bình thường. Nhà tôi vẫn vui vẻ yêu đời, không tỏ vẻ lo lắng gì về chuyện hai cục bướu trong bàng quang. Có lần nhà tôi còn nói nếu có bị ung thư thì nhà tôi cũng không sợ. Phải chăng nhờ tiêm nhiễm những lời giảng của Thầy Thanh Từ và Thầy Nhất Hạnh mà nhà tôi đã giác ngộ được phần nào chăng"
Sau đó đúng hẹn, tôi đưa nhà tôi đến bệnh viện để Bác Sĩ Aaberg cắt hai cục bướu trong bàng quang. Phương pháp cắt tương tự như rọi soi, nên không cần phải mổ xẻ gì cả; tuy vậy, nhà tôi vẫn phải nằm lại bệnh viện một đêm để đề phòng có biến chứng. Ông anh ruột của nhà tôi vì thương em nên đòi đến bệnh viện thăm cô em gái trước khi mổ, nhưng tôi cản, nói rằng đây chỉ là chuyện nhỏ, anh không cần phải lo lắng. Tôi áp dụng giáo lý của nhà Phật: chuyện lớn biến thành chuyện nhỏ; chuyện nhỏ coi như không có. Tôi muốn cho nhà tôi có ấn tượng mọi chuyện đều là chuyện nhỏ.
Tinh thần của nhà tôi vốn mong manh, dễ bị ảnh hưởng bởi những phiền toái của cuộc đời; do đó, tôi luôn luôn bảo vệ nhà tôi tránh khỏi những điều phiền toái nầy được chừng nào hay chừng ấy. Tôi âm thầm tự mình giải quyết tất cả những khó khăn gặp phải; đến chừng nào mọi việc đã trở lại bình thường, tôi mới nói cho nhà tôi biết. Có lẽ nhờ ít đối diện với những phiền trọc của cuộc đời nên giờ nầy nhà tôi vẫn còn giữ được sự trong sáng và hồn nhiên của thời con gái. Sở dĩ tôi cản ông anh đến thăm cũng như tôi hạn chế thông báo bệnh tình của nhà tôi đến với bà con là vì tôi không muốn làm lớn chuyện; tôi muốn sinh hoạt của nhà tôi bình thường như mọi ngày.
*
Bác Sĩ Aaberg nói rằng kết quả xét nghiệm cho thấy nhà tôi bị ung thư ở bàng quang, và đây là một loại ung thư rất hiếm; trong số những trường hợp ung thư, không tới một phần trăm số người bị ung thư loại nầy. Và vì rất hiếm nên nhân lúc có cuộc hội thảo tại bệnh viện Johns Hopkins (bệnh viện chuyên nghiên cứu và chữa trị ung thư hàng đầu ở Mỹ), hồ sơ bệnh trạng của nhà tôi đã được trình bày trong cuộc hội thảo nầy. Nhờ đó, Bác Sĩ Aaberg đã thu thập được thêm những ý kiến quý giá để chữa trị cho nhà tôi.
Tôi ngồi nghe Bác Sĩ Aaberg giải thích mà người như lơ lửng trên mây. Nghe tin nhà tôi bị ung thư tôi như bị sét đánh; tôi choáng váng đầu óc, hết còn biết làm gì nữa. Bác Sĩ Aaberg nói kết quả chụp hình cho thấy có điều may mắn là đã phát hiện sớm vì hai cục bướu ung thư chưa mọc lan ra bên ngoài bàng quang. Ông nói cần phải mổ sớm vì loại ung thư nầy rất dữ, và ông sắp xếp bốn ngày nữa thì mổ. 
Trên đường lái xe về nhà, tôi vẫn nói chuyện bình thường, coi như không có chuyện gì hệ trọng xảy ra dù rằng trong lòng tôi rất xao động. Tôi không muốn lộ ra sự lo sợ khiến cho nhà tôi bị mất tinh thần.
Về đến nhà, tôi gọi điện thoại báo tin cho ông anh biết nhà tôi bị ung thư. Tôi có cảm tưởng như ông anh nhà tôi đã lặng người khi nghe tin dữ; ông chỉ hỏi với giọng yếu ớt là nhà tôi có biết hay không. Tôi trả lời là nhà tôi có biết. Bác sĩ đã giải thích rất rõ ràng mọi điều cho nhà tôi có lẽ để mong nhà tôi tích cực hợp tác với ông trong việc chữa trị căn bệnh quái ác nầy.
Sau khi ăn tối xong, nhà tôi vào nằm trong giường, và khóc. Nhà tôi đã không còn chịu đựng được nữa. Tôi chỉ biết ôm nhà tôi và khóc theo. Tôi thấy thương nhà tôi quá đỗi. Nhà tôi không than van, không trách trời trách đất; nhà tôi chỉ khóc nức từng cơn. Nghe nhà tôi nức nở mà tôi như đứt từng khúc ruột. Nếu có thể chịu bệnh thay cho nhà tôi được, thì tôi xin chịu liền. Tôi cũng không dám trách trời trách đất; tôi chỉ thấy thương nhà tôi sao mà khổ quá. Và tôi lại khóc. Hai vợ chồng tôi ôm nhau khóc, không nói một tiếng nào. Có lẽ trong nỗi đau tột cùng thì mọi tiếng nói đều vô nghĩa. 
Thức dậy vào sáng hôm sau, tôi thấy tinh thần nhà tôi có vẻ tươi tỉnh hơn. Chúng tôi làm đồ ăn sáng, rồi vừa ăn vừa xem chương trình ca nhạc Việt Nam trên DVD. Nhà tôi như bị quyến rũ bởi các màn trình diễn của các ca sĩ, hầu như quên đi căn bệnh hiểm nghèo. Đúng lúc đó, ông anh nhà tôi gọi điện thoại hỏi thăm. Tôi trả lời là nhà tôi vẫn bình thường. Anh bảo đưa điện thoại cho anh nói chuyện với nhà tôi. Tôi đưa điện thoại cho nhà tôi, rồi tôi đi làm công chuyện của tôi. Đến khi trở lại, tôi thấy nhà tôi đã vào trong phòng khóc như mưa. Hỏi chuyện gì, thì nhà tôi chỉ lắc đầu, rồi tiếp tục khóc. Tôi bèn gọi ông anh, hỏi anh nói gì mà nhà tôi khóc dữ vậy. Anh nghe nhà tôi khóc cũng đâm hoảng, không nhớ đã nói những gì, chắc chỉ là những lời an ủi cô em gái mình. Nếu có cuộc thi về khả năng an ủi, thì chắc chắn sẽ không có ai qua mặt được ông anh của chúng tôi, vì nhà tôi đang vui vẻ bình thường, sau khi được ông anh an ủi, bèn khóc như chưa bao giờ được khóc. Ông anh đâu có biết là tôi đã khổ tâm đến chừng nào để tạo một nếp sinh hoạt bình thường trong gia đình, để cho nhà tôi quên đi căn bệnh dữ được lúc nào hay lúc ấy. Chỉ một lời an ủi của ông anh đã lôi kéo nhà tôi trở lại thực trạng đau buồn, đã làm cho nhà tôi nhớ là mình đang mang một căn bệnh ác. Bởi vậy mà nhà tôi khóc như mưa. Khóc vì thương chồng. Khóc vì nghĩ rằng mình sắp phải lìa xa những người thương yêu. Cứ nghĩ vậy, rồi tủi thân, rồi khóc nhiều hơn.
*
Chỉ còn vài ngày nữa là mổ cắt cục bướu, nên nhà tôi nghỉ làm để cho tinh thần được thoải mái và cũng để bồi dưỡng sức khỏe. Tôi cũng nghỉ làm để ở nhà với nhà tôi, để chở nhà tôi đi chơi vòng vòng hoặc đi ăn tiệm. Có lần đi ăn ở tiệm Tàu, nhà tôi bỗng buột miệng hỏi "Bây giờ được ăn tôm chứ gì"" Nghe hỏi mà tôi bàng hoàng. Nhà tôi vốn bị cholesterol cao, đang phải uống thuốc để hạ xuống. Một trong những món ăn cần phải kiêng cữ khi bị cholesterol cao là tôm. Có lẽ nhà tôi nghĩ rằng mình bị ung thư thì còn sợ gì cholesterol cao hay thấp, nên mới hỏi như thế. Tôi bàng hoàng vì nhà tôi đã có cách suy nghĩ tiêu cực như vậy. Và đó là điều tôi cố tránh cho nhà tôi. Tôi nói với nhà tôi là mình kiêng cữ được thì nên kiêng cữ. Tuy nói vậy, nhưng tôi chợt nghĩ, đời có bao lăm, kiêng cữ quá chi cho khổ thân; thôi, thèm thì cứ ăn, đừng có luông tuồng quá là được. Và tôi đã gọi tôm rang muối là món nhà tôi rất thích để nhà tôi chén một bữa cho đã, bù lại những ngày kiêng cữ trước đây.
Đến ngày mổ, sáng sớm tôi đưa nhà tôi đến bệnh viện Kaiser để làm thủ tục nhập viện. Chúng tôi đang ngồi chờ, thì bỗng thấy ông anh xuất hiện. Anh đến thăm mà không nói trước, có lẽ không muốn bị tôi cản như lần trước. Tôi thấy trong ánh mắt của nhà tôi long lanh một niềm vui, vui vì được ông anh thương yêu đến thăm trước khi lên bàn mổ. Ông anh nhà tôi vốn kín đáo, ít khi tỏ lộ tình cảm yêu thương ra bên ngoài, nhất là đối với vợ con và chị em ruột thịt. Tôi biết dù ít biểu lộ ra bên ngoài, nhưng anh rất thương yêu những người thân; anh thương một cách âm thầm, thương theo cách trầm trầm của anh.
Bệnh viện làm việc rất cẩn thận. Họ kiểm tra nhiều đợt để biết chắc nhà tôi đúng là bệnh nhân trong hồ sơ và cũng để xác định rõ là sẽ mổ về việc gì. Có lẽ họ đề phòng chuyện mổ lầm. Nhìn y tá chuyền nước biển cho nhà tôi mà tôi thấy xót xa trong lòng. Tôi thấy thương nhà tôi quá chừng. Tôi bỗng thấy số phận con người sao nhỏ bé quá. Nhà tôi nằm đó, gương mặt hiền hòa, trao số mệnh của mình cho Thượng Đế. Khi y tá chuẩn bị đẩy nhà tôi vào phòng mổ, tôi cầm lấy bàn tay nhà tôi và hôn nhẹ lên trán nàng. Nhà tôi nở một nụ cười thật bình an. Từ sáng đến giờ tôi không thấy một dấu hiệu lo sợ nào của nhà tôi. Đó là điều tôi thấy an ủi vô cùng. 
*
Ông anh và tôi cùng nhau ngồi chờ ngoài phòng đợi. Ông anh coi tivi, còn tôi đọc truyện kiếm hiệp của Kim Dung để khỏi sốt ruột trong lúc chờ đợi. Dù đã lựa một quyển truyện thật lôi cuốn mang theo, nhưng tôi đọc chẳng được bao nhiêu. Thỉnh thoảng chúng tôi trò chuyện với nhau dăm ba câu, và lâu lâu lại hỏi thăm y tá nhà tôi đã mổ xong chưa.
Mãi đến bốn tiếng rưỡi sau Bác Sĩ Aaberg mới ra báo cho chúng tôi biết là kết quả cuộc giải phẩu rất tốt đẹp. Ông đã cắt một phần ba bàng quang của nhà tôi nơi có bướu ung thư, và nghĩ là sẽ không còn mầm mống ung thư nữa. Chưa bao giờ tôi thấy Bác Sĩ Aaberg dễ thương như lúc nầy. Ông đáng yêu quá! Ông là vị cứu tinh của chúng tôi. Xin Thượng Đế ban phước lành cho ông!
Chúng tôi chờ thêm khoảng một tiếng nữa mới thấy nhà tôi được đưa từ phòng hồi sức sang phòng thường. Nhà tôi đã tỉnh thuốc mê, nét mặt diệu hiền như vừa mới ngủ dậy. Quên những lo lắng đã qua, không cần biết những khó khăn sắp tới, tôi thấy rất vui trong lòng vì nhà tôi đã vượt qua cuộc giải phẫu bình an.
*
Trong suốt một tuần nhà tôi nằm bệnh viện, ngày nào tôi cũng vào thăm. Mấy ngày đầu, tôi ở lại suốt giờ thăm bệnh từ mười một giờ sáng đến tám giờ tối. Đến khi thấy nhà tôi đã khỏe được chút ít, tôi chạy vô chạy ra vừa thăm nom nhà tôi vừa lo cho công việc business đang bỏ dở. Để nhà tôi nằm một mình, thì tôi không đành lòng; còn bỏ công việc business không người trông nom, tôi cũng thấy bức rức không ít. Thân nầy ví xẻ làm hai được!
Trong thời gian nầy, tinh thần tôi rất căng thẳng, nhưng tội nhất là Bambi. Vợ chồng tôi không có con; chúng tôi nuôi Bambi, và xem như là con trai của mình. Bambi là loại chó nhỏ thuộc giống Toy Poodle, được gần chín tuổi. Bambi cực kỳ thông minh, hiểu biết tất cả mọi việc, chỉ có điều không biết nói mà thôi. Trong nhà Bambi thương nhà tôi nhất; còn tôi nó xếp vào hạng nhì. Khi nào chúng tôi đi đâu về, tôi là người mở khóa cửa vào trước, nhưng nó xem tôi như là không có, chạy tìm nhà tôi mừng quấn quít. Hai mẹ con nựng nịu nhau, hôn hít nhau một chặp, xong rồi nó mới mừng tôi. Bây giờ tôi về nhà một mình, Bambi chạy luồn qua chân tôi đi tìm mẹ. Không thấy mẹ đâu, nó dáo dác tìm. Nhìn nó đứng ngóng trông mẹ mà tôi thấy thương vô cùng. Chờ hoài không thấy nhà tôi, Bambi lửng thửng đi vô nhà. Nhìn ánh mắt của nó, nhìn dáng đi của nó, mới thấy nó buồn đến chừng nào vì không thấy mẹ. Tôi bồng Bambi lên, vỗ về nó, mà nước mắt lưng tròng. Tôi thương cho Bambi vắng mẹ, và cũng thương nhà tôi đang nằm cô đơn trong bệnh viện. Tôi chợt thấy thiếu vắng nhà tôi làm cho cha con tôi lẻ loi biết chừng nào. Nước mắt tôi chảy dài, chảy dài...
Thức ăn do bệnh viện nấu nhà tôi ăn không hạp khẩu. Tôi đút cho nhà tôi được vài muổng thì nhà tôi lắc đầu, không chịu ăn nữa. Tôi năn nỉ thế nào cũng không chịu. Thấy bỏ cũng uổng, sẵn đang đói bụng, tôi dứt sạch phần ăn của nhà tôi. Cô y tá vào thấy khay đồ ăn sạch sẽ, hỏi có phải nhà tôi đã ăn hết không, tôi bẽn lẽn trả lời chính tôi đã giúp thu dọn chiến trường. Cô ấy nói vậy cũng tốt, khỏi bỏ phí của trời. Cô y tá nầy là người Phi, suy nghĩ giống y chang người Việt mình.
Bà chị dâu thấy nhà tôi không ăn được thức ăn của bệnh viện, bèn kho cho nhà tôi một soong cá cơm là món ăn khoái khẩu của nhà tôi. Ông anh cũng không quên mang theo cơm, còn kèm thêm một khoanh chả lụa và mấy củ khoai lang tím luộc (khoai dương ngọc cũng là món hủ xực của nhà tôi). Những cử chỉ săn sóc nho nhỏ như vậy của anh chị đã làm cho vợ chồng tôi hết sức cảm động.
Có một buổi sáng tôi vừa bước vào, thì nhà tôi mếu máo nói "Em bị xỉu mà không có anh bên cạnh." Thấy nhà tôi rưng rưng nước mắt mà tôi xót xa trong lòng. Tôi nói bệnh viện không cho vào sớm, nên tôi không thể vào trước mười một giờ được. Vị bác sĩ trực thấy tôi liền báo cho tôi biết là vào khoảng chín giờ sáng, nhà tôi vào restroom đánh răng, thì bị té xỉu. Ông đã khám xét kỹ, và thấy là nhà tôi không bị đụng ở đâu cả. Ông cũng cho biết là ông đang thử máu nhà tôi, coi thử có bị thiếu máu hay không. Chính vì biến cố nầy mà bác sĩ quyết định giữ nhà tôi ở lại bệnh viện thêm một ngày nữa, thay vì được về ngày hôm sau. Tôi rất lo trong lòng, không biết nguyên nhân nào đã làm cho nhà tôi bị té xỉu. Sau đó, phòng thí nghiệm báo cho biết là nhà tôi không bị thiếu máu, nên bác sĩ đã không chuyền máu cho nhà tôi. Dù nhà tôi không bị thiếu máu, nhưng trong lòng tôi rất lo, không biết nhà tôi có bị biến chứng gì không.
Trước khi nhà tôi xuất viện, y tá hướng dẫn tôi cách săn sóc nhà tôi tại nhà, nhất là cách thay túi chứa nước tiểu. Vì bàng quang bị cắt một phần và đang khâu lại, nên bác sĩ cho nước tiểu chảy vào một cái túi nhựa đeo lủng lẳng bên ngoài. Thấy thì khó, nhưng khi y tá bắt tôi thực tập vài lần, thì tôi cũng thay được túi nước tiểu. Thương vợ, gì cũng làm được, sá gì chuyện thay túi nước tiểu.
*
Đưa nhà tôi về nhà, thấy thoải mái hơn, nhưng tôi cũng bận bịu hơn vì chỉ có một mình tôi săn sóc cho nhà tôi. Lúc bình thường, hai vợ chồng hú hí với nhau, thấy thoải mái và hạnh phúc. Nhưng lúc nầy nhà tôi nằm một chỗ, tôi thấy lẻ loi chi lạ. 
Tôi một mình lo chuyện ăn uống và canh giờ cho nhà tôi uống thuốc. Khổ cho tôi nhất là chuyện nấu ăn. Tôi giỏi nhất là nấu mì gói, ngoài ra không biết nấu món gì khác. Nhớ có lần tôi trổ tài nấu ăn, làm món vịt nướng chao. Tôi đi chợ mua vịt, mua chao, và các thứ gia vị. Theo đúng từng chữ trong sách dạy nấu ăn, tôi hì hục cắt vịt, ướp chao, rồi nướng vịt suốt mấy tiếng đồng hồ. Lúc làm xong, tôi hí hửng mời nhà tôi ăn. Nhà tôi cắn một miếng, vì lịch sự nên nuốt luôn, nhưng từ chối không ăn nữa. Bữa đó làm tôi ăn vịt nướng chao nhừ tử! 
May có bà chị dâu làm cho mấy món ăn, đem chất đầy cả tủ lạnh. Bà chị đã biết quá rõ tài nấu ăn của tôi; nếu chờ cho tôi nấu ăn, chắc nhà tôi chỉ còn da với xương.
Hai ngày sau khi từ bệnh viện về, nhà tôi đòi tắm và gội đầu. Tôi dẫn nhà tôi vào phòng tắm, chuẩn bị hết mọi thứ, rồi bước ra ngoài. Một lúc sau, nghe tiếng nhà tôi kêu, tôi vội chạy vào. Tôi thấy nhà tôi đang đứng níu chặt cánh cửa buồng tắm, mặt mày xanh mét. Tôi vội xốc nách nhà tôi, lấy thế đứng cho vững. Nhà tôi bỗng buông hai tay, khuỵu xuống; tất cả sức nặng của nhà tôi đổ dồn xuống hai tay tôi. Nhà tôi đầu ngã ra sau, mắt trợn ngược, miệng há hốc, toàn thân xụi lơ, bất động. Tôi thấy điếng cả người, nghĩ là nhà tôi đã ra đi. Tôi cố hết sức bồng nhà tôi đặt nằm trên giường. Tôi quýnh quáng, chỉ biết ôm vai lay nhà tôi, rồi vỗ nhẹ bên má nhà tôi. Nhà tôi từ từ chớp mắt, rồi môi từ từ mấp máy. Nhà tôi đã tỉnh lại, và tôi cũng đã được tỉnh lại. Nhà tôi đã hoàn hồn, và tôi cũng đã được hoàn hồn. Sự việc xảy ra chỉ trong khoảng mười lăm giây, nhưng tôi thấy như thời gian đã ngưng đọng lại. Chỉ trong mười lăm giây ngắn ngủi, tôi đã chứng kiến nhà tôi bước sang cõi chết, rồi về lại cõi sống. Và cũng chỉ trong mười lăm giây ngắn ngủi đó, tôi rơi vào trạng thái chết điếng người, rồi lại bước vào trạng thái nhẹ hẫng như mây. Mọi lo sợ, mọi hoảng hốt, mọi tuyệt vọng của tôi chỉ vài cái chớp mắt của nhà tôi đã làm cho tan biến hết. Nhà tôi nằm đó, mặt vẫn còn xanh, nhưng đã biết gật đầu trả lời những câu hỏi của tôi. Tôi mừng vô hạn. Tôi tưởng chừng như mình vừa thoát chết. Nhìn gương mặt đã bắt đầu có thần khí của nhà tôi mà tôi mừng chảy nước mắt.
Thật tình mà nói, nếu nhà tôi có ra đi lúc nầy, thì cũng đúng với mong muốn của nhà tôi. Đã từ rất lâu, những lúc tâm sự với nhau, nhà tôi thường tỏ ý mong muốn sẽ ra đi trước tôi. Nếu tôi ra đi trước, nhà tôi sợ cảnh phải ở lại một mình, sẽ đau buồn không thể nào chịu được; bởi vậy, nhà tôi lúc nào cũng muốn mình là người ra đi trước. Và tôi cũng đồng tình với ý muốn của nhà tôi. Tôi biết nhà tôi rất yêu thương tôi, và nhà tôi cũng biết là tôi rất yêu thương nàng; cho nên nhà tôi sẽ khó có thể chịu đựng được nỗi đau buồn và nỗi cô đơn khi không còn có tôi bên cạnh nữa. Tôi đồng tình làm kẻ đi sau vì tôi sẵn sàng gánh chịu nỗi đau buồn và nỗi cô đơn cho nhà tôi. Tôi thương nhà tôi, tôi không muốn nhà tôi phải chịu cảnh khổ sở như vậy. Chúng tôi yêu nhau tám năm (là mối tình đầu của cả hai chúng tôi), rồi lấy nhau ba mươi sáu năm. Chúng tôi đã cùng nhau lên thác xuống ghềnh, đã cùng nhau chia sẻ những ngọt bùi lẫn đắng cay của cuộc đời, đã cùng theo nhau đến chân trời góc bể. Mấy chục năm tình nghĩa mặn nồng như vậy, làm sao nhà tôi có thể chịu đựng được khi không còn có tôi" Đó là lý do khiến cho nhà tôi muốn mình là người ra đi trước. Từ ngày chấp nhận là kẻ đi sau, tôi ăn uống kiêng cữ hơn, tập thể dục đều đặn hơn, uống thuốc bổ đầy đủ hơn, lái xe cẩn thận hơn... Nói chung là tôi cố giữ gìn sức khỏe cho tốt hơn chỉ với một mục đích duy nhất là mong sẽ đi sau nhà tôi một bước. 
Sau lần bị xỉu vừa rồi, nhà tôi chịu ăn uống nhiều hơn cho mau lại sức, không còn kén ăn như trước. Được người quen hướng dẫn, tôi đi hốt thuốc Bắc về hầm với gà ác và xương đuôi bò, rồi lấy nước cho nhà tôi uống. Tôi thay đổi, khi thì gà ác, khi thì xương đuôi bò; sợ ăn gà ác hoài, da nhà tôi sẽ đen như da gà ác, lại phải tốn tiền tẩy trắng da như ca sĩ nổi tiếng Michael Jackson. Tôi chăm chỉ hầm gà và hầm xương cho nhà tôi. Nhà tôi khen tôi giỏi vì lần đầu tiên thấy tôi chịu khó nấu bếp. Tôi trả lời thương vợ thì làm, chứ có gì mà giỏi. Mà đúng như vậy, trước đây tôi không thích nấu ăn vì tôi dễ tính, ăn gì cũng được, cũng thấy ngon, nên không cần phải nấu nướng cầu kỳ; còn bây giờ nhà tôi bị bệnh, cần uống canh bổ cho lại sức, nên tôi đi hỏi cách nấu, rồi vào bếp nấu cho nhà tôi. Tôi vừa làm vừa gửi trọn lòng thương yêu của mình vào việc rửa thịt, lóc mỡ, nêm nếm, vớt bọt, rồi rót nước canh ra ly cho nhà tôi uống. Tôi làm mà thấy lòng tràn ngập niềm thương yêu, mà thấy thương nhà tôi vô cùng.
*
Mười hai ngày sau khi mổ, nhà tôi trở lại bệnh viện để rút ống chuyền nước tiểu và cũng để biết kết quả xét nghiệm của cuộc giải phẫu vừa rồi. Bác Sĩ Aaberg cho biết các tế bào ung thư đã được lấy sạch; do đó, nhà tôi không cần phải chữa bằng hóa trị tiếp theo. Vợ chồng tôi mừng vô hạn, không biết dùng lời lẽ gì để nói lên hết lòng biết ơn của chúng tôi đối với Bác Sĩ Aaberg. 
Ra khỏi bệnh viện, tôi gọi ngay cho ông anh để báo tin mừng cho anh ấy vì tôi biết anh cũng đang nóng lòng trông chờ kết quả xét nghiệm của em gái mình. Tôi nói chiều nay vợ chồng tôi sẽ đãi anh chị ăn tối để ăn mừng. Và tôi đã gọi nhà hàng đặt hai phần tôm hùm, hai phần cua rang muối, một phần tôm rang muối, một phần mì xào hải sản, và một phần rau muống xào tỏi. Bảy phần ăn cho bốn người quả là quá thịnh soạn. Chúng tôi ăn mừng một bữa huy hoàng tráng lệ vì nhà tôi không còn mầm mống ung thư trong người nữa.
...
...
Lê Tấn Phước

Saturday, December 1, 2012

Huế chướng

....MƯA BÂY CHỪ
...
..
...
HUẾ  "CHAY",  HUẾ  "LAI" và  HUẾ ... "CHƯỚNG"
..
Nhiều nhà thơ, học giả viết rất nhiều về Huế đẹp và thơ, Huế này Huế nọ, nhưng ít ai viết về "người" Huế cả, làm như đó là một điều tối kỵ, ai cũng né tránh; chuyện như thể nói đụng đến người Do Thái là họ hùng hổ bênh vực nòi giống quý của nhân loại.  Hôm nay tôi xin mạo muội viết về "người" Huế và cái "chướng" của các ngài, và cũng xin chia ra ba loại "Huế chay", "Huế lai", và "Huế chướng" cho dễ nói chuyện bởi vì Huế cũng "ba bảy đường Huế".
..
Phong cảnh Huế rất đẹp, sông Hương, núi Ngự, đền đài lăng tẩm, nhưng người Huế thì lai, chay, và chướng. Điều này không có nghĩa Huế lai thì không đẹp, Huế chay thì không tốt, và Huế chướng thì đáng ghét.  Tại sao gọi Huế chay?  Chay có nghĩa là chay tịnh, như nghĩa "Tôi nay chay tịnh" không còn biết "đờn bà" nữa!  Hay chay có nghĩa là dưa, muối, rau và nước lã?  Thế thì Huế chay là Huế ăn toàn rau, dưa, muối, và uống nước lã.
..
Thật đúng vậy, người Huế chay,100% Huế, là người chỉ dùng những thức ăn mộc mạc, không ăn kiểu cọ, xa xỉ; và họ chỉ nói những lời thành thật, phát xuất từ một tâm hồn rất lương thiện, không thích bon chen.  Ngôn từ của người Huế chay rất Huế, nặng chất Huế và đầy địa phương tính.  "Hai thương ăn nói dịu dàng mà lại có duyên" là vậy đó.  Người Huế chay trang phục cũng rất giản dị, không theo thời trang lắm, chỉ biết "ăn chắc mặc bền" như kiểu "dầu lai dưa muối cũng dài lâu".  Thú vui của người Huế chay thì rất ư là thanh nhã:  túi thơ trăng gió, tự hào về một thời quá khứ hoàng kim, an phận với những gì họ có và không cầu tiến; kiểu như "đói ăn rau, đau uống thuốc".  Nói về đi đứng thì người Huế chay không chịu rời quê cha đất tổ (trừ khi Cộng sản vào chiếm cố đô Huế!).  Huế chay cứ quanh quẩn với vườn cau, với tiếng gà gáy trưa, với tiếng kinh kệ,  (Huế chay nổi tiếng mộ đạo lắm), với bóng tối triền miên.  Chàng Huế chay rất gắn bó với "vua", với "miếu", với "thành".  Muôn đời vẫn thế - "Em ra đi nơi này vẫn thế."  Cố đô có loang lỗ rêu phong vẫn để mặc;  Huế chay rất ung dung tự tại.  Nếu chàng Huế chay có "dzợ" thì cũng "dzợ" hiền, và càng ở lâu với "bả", chàng Huế chay sẽ biến thành Huế "chướng".   
..
Tại sao vậy, xin mời bạn đọc tiếp.  Hấp dẫn lắm vì "chướng" không chưa đủ, còn "ngng" nữa.  Đó, bạn đã bắt đầu thấy hấp dẫn chưa?
..
Thế còn chàng Huế "lai" thì sao?  Trước hết phải nói chàng Huế "lai" là lai ở chỗ lấy dzợ không phải người Huế, đem thân "trâu ngựa" cho dzợ khác miền "xài";  mặc sức ăn rau muống, giá sống cho đến chết.  Còn nếu muốn sống thường phải lén đi ăn bún bò Huế Đông Ba thì họa may mới ngắc ngoải...
..
Huế "lai" là người đành đoạn bỏ Huế mà đi.  Đi đâu không biết nhưng thường hễ đi là đi luôn, "thẳng cò o ngón", dzông luôn một mạch, bỏ xứ mà đi, "tha phương cầu thực".  Đó là Huế lai.  Huế lai lấy dzợ về già ít khi "chướng", hay nói cho rõ là không dám "chướng" vì làm răng mà chướng cho được nếu không muốn "ăn đòn" dài dài, bởi vì chỉ có lấy dzợ người Huế thì còn được chiều chuộng chứ đã "lai" rồi thì còn khuya!  Lơ tơ mơ là đói, là "bỏ mạng sa trường", nhất là về già mà không có "cơm bưng nước rót" là "tiêu" sớm!   Đó, bạn thấy "lai" tai hại chưa?  Vậy nên Huế lai thường biết thân phận lưu đày, lo tu tâm sửa tánh.
..
Huế lai thường hay thích sửa tiếng, sửa giọng vì không muốn ai biết gốc gác mình và cũng muốn che đậy thổ âm "quê mùa" của Huế.  Huế lai thường ăn nói nhỏ nhẹ, năn nỉ, ngoại giao chứ không ăn nói "thẳng như ruột ngựa", "chắc như củ khoai sắn" như Huế chay.  Huế lai ăn uống cũng không dám đòi hỏi, không có "chướng", chê bai này nọ.  Riết rồi có khi theo phe dzợ, cho món Huế là quá "cay", quá "mặn", quá "tỉ mỉ" mà quên luôn món Huế.
..
Nói về "mười thương em giữ cương thường" thì Huế chay là số dzách.  Huế chay rất nề nếp gia phong, trên dưới phân cấp rõ ràng, ăn nói xưng hô theo đúng "tam cương ngũ thường".  Trái lại, chàng Huế "lai" ít khi để ý đến các điểm này, hoặc có để ý cũng là đại khái với ý là muốn gột bỏ cái "chất Huế mặn mà" đi.  Nhưng có một điều chắc chắn là chàng Huế chay không dám tự hào rằng mình "khá" hơn chàng Huế lai vì sự thật đa số Huế lai đều "khá" cả.  "Khá" ở đây hiểu theo nghĩa thành công;  thí dụ rất nhiều ký giả, luật sư, kỹ sư, bác sĩ, nhà văn, nhà báo, bác học ... hỏi ra đều là Huế lai cả đó ạ!  Chỉ cần tiêm đúng vào nọc độc "Huế của ta đây, phe mình đây" là "cong đuôi con nòng nọc" ra mà cãi.  Thế nhưng Huế lai mà gặp Huế chay thì đố bạn sẽ như thế nào?  Huế chay sẽ chỉ huy Huế lai, sẽ "lợi dụng" Huế lai, còn Huế lai thì chỉ biết vâng lời thôi.
..
Đặc biệt Huế chay hay chia rẽ, mỗi người là một ông vua con; còn Huế lai thì muốn "đoàn kết", làm ra vẻ "hướng về quê mẹ", thích đoàn kết lắm.  Bệnh này dễ trị hơn bệnh của Huế chay - chia rẽ và đố kỵ.  Thuốc chữa là các món ăn hương vị Huế, xắt ra, tán nhỏ, sắc khô, uống trong ba ngày ba đêm, sáng ngày thứ ba đi dự ngày nhớ Huế thật sớm là lành bệnh ngay.
..
Còn Huế "chướng" thì sao?  Huế "chướng" là Huế "chay" hóa lão.  Huế chướng không bao giờ bằng lòng với cái mình đang có, luôn luôn so sánh hiện tại với quá khứ vàng son, khuôn vàng thước ngọc thuở xa xưa mà chướng.  Chẳng hạn "đoài" nghe "ca Huế" ở xứ Mỹ này nhưng nghe xong thì chê là anh Huế chướng.  Chẳng hạn "đoài" ăn trái vả, ăn khế với bắp chuối non, các thứ đó phải có trong cơm hến, nếu không có thì chê là anh Huế chướng.  Chẳng hạn muốn cưới con gái Huế mà không thuận lòng từ người trên xuống kẻ dưới mà cứ nhè từ dưới đi lên nên bị ông già vợ Huế chướng từ khước ngay, bởi vì thời nay con đặt đâu cha mẹ ngồi đấy chứ ở đó mà chướng!
..
Huế "chướng" càng về già càng ít lãng mạn như hồi trẻ, không chịu nắm tay nắm chân, tệ hơn nữa là hễ đụng nhau, cọ nhau một chút thì nhăn nhó, la làng lên, là anh Huế "chướng".  Anh Huế chướng mà vợ bỏ thì càng chướng thêm và sẽ không bao giờ lấy vợ thứ hai được vì đã chướng lại còn độc tài nữa.  Không có thuốc chữa trị cho bệnh chướng này.  Vô phương!  Tôi xin thách đố bạn nào mách nước cho tôi cách trị chứng bệnh nan y thời đại này.
..
Khi Huế "chướng" tỏ vẻ trẻ trung thì hóa ra "ngẳng".  Nói đến Huế "ngẳng" thì phải nói đến cụ Cẩn.  Cụ đã chướng, nhai trầu bỏm bẻm mà lại hay ra bờ sông để "tè".  Cụ Cẩn là một sự phối hợp tuyệt diệu của Huế "ngẳng".
..
Trong các loại người Huế, có một loại tôi không biết nên liệt vào nhóm nào.  Đó là những người "Huế mà không phải Huế".  Họ là những người Huế sống ở Nha Trang, Đà Lạt, nói tiếng Huế chay nhưng không biết Huế là chi, Huế đẹp chỗ mô, hoàn toàn không biết chi về Huế cả.  Nghe mà phát giận không!  Tôi không biết nên xếp họ vào loại Huế nào.  Gọi họ là Huế "lai" cũng không đúng vì toàn thể gia đình vợ con đều gốc Huế, nói tiếng Huế rặc, chỉ tội là không ở Huế ngày nào cả, không biết sông Hương, núi Ngự, Dạ Lê, Thanh Thủy, nói chi đến Nguyệt Biều, không biết một cái chi hết về Huế!  Mấy người "Huế huế" này bạn có thể gặp dễ dàng ở hành lang hay ngoài hậu trường trong ngày Nhớ Huế bởi vì "mần răng" mà biết nghe nhạc Huế, ca Huế, thơ Huế, kịch Huế v.v... được.  Có ở Huế mô mà biết hay, biết đẹp!  Thôi, "tản lờ" là quốc sách!  Tôi tạm gọi họ là "Huế huế";   chữ "huế" tĩnh từ đây có nghĩa rất dễ hiểu là "chút chút, sơ sơ, phiếm diện, bề ngoài" vì chỉ nói được tiếng Huế chứ không phải Huế (diễn tiếng miền Nam là "coi dzậy chứ hổng phải dzậy").  Bạn đừng để tôi gặp ngoài hành lang kêu "Huế huế" nhé!  Tôi biết bạn không mất gốc Huế, mà có khi gốc Huế của bạn còn bự hơn của tôi nữa.
..
Nhưng đối với những người Huế sau đây, tôi chắc bạn đồng ý với tôi rằng nên gọi họ là người "Huế gốc khác". Tại vì sao?  Tôi đố bạn đấy.  Này nhé, họ cũng ở Huế lâu năm nhé, cũng nói tiếng Huế trọ trẹ nhé,  cũng biết Huế đẹp Huế thơ nhé,  nhưng lại gốc... Tàu.  Huế rặc mà lại gốc Tàu mới nguy, thì phải gọi họ là "Huế gốc... khác" mới đúng chứ còn gì nữa, phải không bạn?  Mấy người này chắc chắn không phải là "Huế gốc...vả".  Thì có ai xa lạ đâu:  gia đình chú Xồi chuyên làm "Mè Xửng Huế" ở đường Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu là những người anh em "Huế gốc... khác".  Mà không chừng chữ "xửng" của mè xửng cũng do chú Xồi, người "Huế mà anh em khác gốc" chế ra cũng có.
..
Hóa ra, Huế "chay", Huế "lai", Huế "chướng", Huế "ngẳng" chưa đủ, lại còn Huế "gốc khác" và Huế "huế" nữa, các bạn thấy vui không?
..
Như vậy, sau khi phân tích người Huế "nát nước" ra, chắc có nhiều vị tự động xếp mình vào cột nào rồi để hiểu mình hơn nữa, lo tu thân tích đức, sửa đối tánh nết cho hợp tình hình.  Thế là chúng ta có được một tập thể mạnh, thích chỉ trích nhau nhưng thương yêu nhau, thích kèn cựa nhau nhưng hãnh diện về nhau.  May thay, một tập thể như vậy luôn được bồi đắp và nhắc nhở bằng những giá trị văn hóa của Huế, qua những nét đẹp và truyền thống dễ thương của Huế.  Và cuối cùng, cũng chính trong tập thể yêu quý đó, chúng ta vẫn tìm ra được những điều buồn cười, ngộ nghĩnh, đôi khi "kỳ cục" của những con người Huế, mà tiêu biểu là Huế "chay", Huế "lai", và Huế "chướng".
..
Bạn thuộc loại Huế nào, "chay", "chướng", "ngẳng", hay "lai"?  Bạn đừng lo.  Tôi vẫn cứ chơi với bạn.  Tin tôi đi!
..
Ta hẹn gặp nhau ở ngày NHỚ HUẾ!
..
LPL.
Van Nuys, đầu mùa Hạ 1992
..
Trương Mỹ Vân - ĐK67 (B3-C1) sưu tầm từ "Tuyển Tập -  Ngày Nhớ Huế"..