Saturday, August 2, 2014

Có những chùa xưa

BÀI VIẾT CỦA THẦY HÀ THÚC HOAN
...
.
CHÙA XƯA
...
Có những ngôi Chùa xưa chỉ còn tồn tại trong sử sách hay thơ văn vì đã bị giặc ngoại xâm hủy hoại, thiên tai tàn phá hay chịu sự đổi thay theo lẽ vô thường. Một trong những cổ tự có số phận như thế là chùa Đọi đã được ghi tả qua bài thơ Đường luật dưới đây của Nguyễn Khuyến:
..
“Già yếu xa xôi bấy đến nay,
Làng chơi loáng thoáng lại buồn thay !
Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá,
Sư cụ nằm chung với khói mây.
Dặm thế ngõ đâu tầng trúc ấy,
Thuyền ai khách đợi bến dâu đây.
Chuông trưa vẳng tiếng người không biết,
Trâu thả sườn non ngủ gốc cây.”
.....
Bằng ngôn ngữ súc tích và thi vị cổ kính của bài Đường thi, Tam nguyên Yên Đỗ khéo vẽ nên cảnh “chùa xưa”, làm sống lại một nét đẹp đã trở thành truyền thống của Phật giáo Việt Nam và văn hoá nước nhà.
..
Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) là một nhà nho hiển đạt, đỗ Tam nguyên, từng làm quan đến chức Tổng đốc. Với tinh thần tổng hợp, hoà đồng của người trí thức phương Đông, dù có một thời gian dài học tập và xuất chính theo quan điểm nhập thế của đạo Khổng, cũng giống như Nguyễn Công Trứ và nhiều nho sĩ khác, Nguyễn Khuyến tiếp nhận dễ dàng tư tưởng xuất thế của đạo Phật và chùa Đọi trở thành nơi chốn quen thân để tác giả đi về.
..
Chùa Đọi, tên Hán Việt là Sùng Thiên Diên Linh, được xây dựng trên núi Long Đọi thuộc huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam, cách quê hương Nguyễn Khuyến là huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam chừng 10 cây số. Bài Chơi núi Long Đọi  của Nguyễn Khuyến có cặp đề và cặp thực diễn tả nỗi ngậm ngùi khi thấy chùa Đọi không còn như xưa :
...
“Hai mươi năm cũ lại về đây,
Phong cảnh nhà chiền vẫn chửa khuây.
Chiếc bóng lưng trời am các quạnh,
Mảnh bia thủa trước bể dâu đầy.”
..
Có thể nói khi sáng tác bài Cảnh chùa Đọi này, Nguyễn Khuyến cũng đã xa cách “nhà chiền” một khoảng thời gian dài hàng chục năm như thế. Cho nên khi gặp lại, nhà thơ không khỏi cảm thấy “buồn thay” vì tình người đối với cảnh thì “chửa khuây” nhưng cảnh đối với người thì đã đổi thay nhiều để trở nên quạnh quẽ :
...
“Già yếu xa xôi bấy đến nay,
Làng chơi loáng thoáng lại buồn thay !”
..
Hai câu đề (câu 1 và câu 2) cho biết Nguyễn Khuyến sáng tác bài thơ này trong những năm tháng cuối đời, khi tác giả đã “già yếu”, đang sống cô đơn, vì “Bạn già lớp trước nay còn mấy / Chuyện cũ mười phần chín chẳng như.”
....
Theo thi pháp của bài thơ Đường, hai câu thực (câu 3 và câu 4) có nhiệm vụ nêu rõ đầu đề, diễn đạt ý chính của bài thơ là Cảnh chùa Đọi :
....
“Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá,
Sư cụ nằm chung với khói mây.”
..
Hình ảnh ngôi “chùa xưa” ở đây thể hiện rõ nét đặc trưng đã tạo nên giá trị nghệ thuật đặc sắc của kiến trúc Việt Nam nói riêng và Đông phương nói chung. Đó là sự hoà hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình xây dựng của con người. Không giống nhà thờThiên Chúa giáo được người phương Tây xây cất với cái tháp chuông cao vút đơn độc vươn lên trời xanh như muốn chinh phục tất cả, chế ngự tất cả, ngôi chùa Phật giáo “ở lẫn cùng cây đá”, cùng tồn tại bên cạnh những biểu hiện khác của tạo vật để chung sống, hoà đồng với tất cả. Kiến trúc của ngôi chùa cổ Việt Nam phù hợp với lý tưởng sống của người Phật tử là vị tha vô ngã, quý trọng hoà bình, yêu thương đến cả cầm thú và cỏ cây.
..
Ngôi chùa, dù được tạo thành bởi nghệ thuật kiến trúc tối ưu và bằng những vật liệu hảo hạng, cũng chỉ là một khối gạch ngói vô tri, gỗ đá không có sức sống hay sắt thép cứng cỏi, lạnh lùng. Các tượng Phật dù to lớn, quý giá và đẹp đẽ đến đâu cũng chỉ là những biểu tượng. Sức sống, cái hồn của chốn già lam chính là phạm hạnh bậc chân tu… Với chùa Đọi trong thơ Nguyễn Khuyến, đó là “Sư cụ nằm chung với khói mây”. Theo nghĩa đen, chúng ta có thể hiểu vì chùa Đọi được xây cất trên núi cao nên sư ông trú trì đã sống “chung với khói mây” . Hiểu theo nghĩa bóng, qua hình tượng “khói mây”, chúng ta tìm thấy đạo hạnh cao dày, lý tưởng sống xuất gia thoát tục của vị sứ giả chân chính của Đức Như Lai. ..
Chùa thì “ở lẫn” với cây và đá, sư thì “nằm chung” với khói và mây. Với hai hình ảnh gắn kết này, Nguyễn Khuyến muốn nói rõ mối quan hệ mật thiết giữa cuộc sống con người và thế giới tự nhiên. Cũng vì lẽ này, đi chùa đối với nho sĩ Nguyễn Khuyến còn là một cơ hội để sống giao hoà với cây cỏ xanh tươi và đất trời cao rộng, như những lần nhà thơ đến với “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo” để ngắm “nước biếc”, “lá vàng” và “trời xanh” (4), hoặc “Chống gậy lên cao bước chẳng chồn” (5) để thăm núi An Lão.
......
Cũng vì mục đích đi chùa để vãng cảnh như đã nói trên nên ở hai câu luận ( câu 5 và câu 6) Nguyễn Khuyến không miêu tả chi tiết cảnh chùa Đọi mà hướng cái nhìn xuống thấp để thưởng thức cảnh đẹp của làng quê trùng điệp một màu xanh là xanh trúc, xanh nước, xanh dâu :
....
“Dặm thế ngõ đâu tầng trúc ấy,
Thuyền ai khách đợi bến dâu đây.”
...
Từ ghép “dặm thế” tạo cho bức tranh “chùa xưa” cái thi vị cổ kính, đồng thời biểu hiện tâm trạng thoát tục xuất trần của Nguyễn Khuyến khi lên núi cao để viếng cảnh chùa. Hai đại từ phiếm chỉ “đâu” và “ai” vừa tạo nét nghĩa nhoè cho thơ, vừa góp phần thể hiện cảm xúc thanh thoát, mơ màng của người ngắm cảnh. Ngôi chùa cổ thanh tịnh, vị sư già đạo hạnh và cảnh đẹp quê hương đã đem lại những giây phút an lạc và thảnh thơi cho vị lão thần liêm khiết đã sớm từ bỏ bổng lộc của triều đình để về quê nhưng vẫn còn nặng lòng với thế sự.
...
Ở hai câu kết, Nguyễn Khuyến trở lại với chủ đề Cảnh chùa Đọi để miêu tả một chi tiết đã được chọn lọc, một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên không khí tôn nghiêm mà không kém phần thanh thoát thơ mộng nơi cửa thiền. Đó là tiếng chuông chùa êm đềm, thong thả, ngân nga :
...
“Chuông trưa vẳng tiếng người không biết,
Trâu thả sườn non ngủ gốc cây.”.
....
Vào buổi trưa, tiếng chuông chùa từ xa “vẳng” lại, chẳng những không làm cho cảnh vật trở nên ồn ào náo nhiệt mà còn làm cho phong cảnh nơi đây thêm phần im vắng, tĩnh mịch. Đó là âm thanh của im lặng. Âm thanh này không quấy rầy giấc ngủ của mục tử mà góp phần làm cho giấc nồng của mục đồng trở nên sâu lắng hơn.....Hai câu kết này vừa đóng vừa mở:đóng lại bức tranh vẽ cảnh chùa và mở ra cho chúng ta những cảm nghĩ miên man về hạnh phúc của con người và con vật khi môi trường sống còn được gìn giữ. Rừng chưa bị huỷ diệt nên người chăn trâu có thể tìm được giấc ngủ thần tiên dưới bóng mát của cây xanh. Cây xanh chưa bị chặt phá thì đất không bị xói mòn, thảm cỏ tươi non vẫn còn đó để trâu nhẩn nha gặm cỏ. Và trâu có nhẩn nha gặm cỏ trên “sườn non” thì người giữ trâu mới có thể ngủ một giấc ngon lành dưới “gốc cây”.
..
Đọc hai câu thơ gợi mà không tả này, chúng tôi nhớ lại cảnh trong một phim truyện nói về số phận người dân sinh sống trên vùng đất đang bị sa mạc hoá ở Mễ Tây Cơ. Ở đó không có bóng mát của cây cao, chỉ có những cây xương rồng trơ trụi và những bụi cỏ nhỏ mọc rải rác, thưa thớt, cao không quá móng chân cừu. Kiếm ăn trên vùng đất sỏi đá khô cằn ấy, những đàn gia súc không đi mà chạy, phải chạy thật nhanh thì mới có thể gặm được một số lượng cỏ đủ no cho một ngày. Đàn gia súc chạy qua và để lại một đám bụi mù mịt, sau lớp bụi mờ dần dần hiện rõ hình ảnh chàng mục tử người Mễ với chiếc mũ rộng vành. Giữa cảnh bao la vắng vẻ của vùng đất rộng đang trở thành hoang mạc, để làm nguôi khuây nỗi cô đơn của chàng trai mới lớn, mục đồng cất tiếng ca trầm buồn mà vang vọng bày tỏ lòng thương nhớ rừng cây, đồng cỏ và đồng thời nói lên nỗi xót thương cho thân phận của mình :
..
“Hỡi rừng cây !
Hỡi đồng cỏ !
Hãy cho ta bóng mát làm lọng che đầu cho nàng,
Hãy cho ta bãi cỏ xanh lót dưới chân người đẹp,
Hãy cho ta bông hoa đầu mùa kết thành tràng hoa ngày cưới …”
....
Có làm một liên hệ ngoài văn bản như thế chúng ta mới thấu hiểu hạnh phúc tuyệt vời của con trâu và chàng mục tử trong bài thơ Cảnh chùa Đọi của Việt Nam. Từ đó chúng ta nhận biết việc giữ gìn cỏ cây nói riêng và bảo vệ môi trường sống nói chung là quan trọng và khẩn thiết như thế nào
....
Nói chuyện “chùa xưa” không thể không nhắc đến “chùa nay”.
Tết nguyên đán này, trên mọi miền đất nước, hàng triệu Phật tử Việt Nam đã đi chùa, thắp nhang thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn. Trong số hàng ngàn tự viện ấy, ấn tượng nhất là những ngôi chùa Huế có khuôn viên rộng rãi rợp bóng cây xanh và những thiền viện do Hoà thượng Thanh Từ sáng lập, các đệ tử khai phá, xây dựng trên cả ba miền đất nước. Tại nhiều quốc gia trên thế giới như Ấn Độ, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Úc, Canada, Nga, Ba Lan, Ukraina,v.v. nhiều ngôi chùa Việt đã được xây cất để trở thành địa chỉ tâm linh và văn hoá của hàng vạn người Việt Nam xa xứ. Thật đáng vui mừng khi thấy sự phát triển về số lượng của những ngôi chùa Việt ! Thế nhưng, vào thế kỷ V trước Tây lịch, khi chưa xuất hiện hình ảnh ngôi chùa, Phật tổ đã chứng đắc đạo vô thượng dưới gốc cây bồ đề và nhập niết bàn trong trong bóng mát của hàng cây sa la. Ngôi chùa dù nguy nga tráng lệ đến đâu cũng chỉ là phương tiện hỗ trợ cho sự tu tập của Phật tử. Phật dạy kẻ chấp phương tiện không khác gì người đã qua được sông nhờ bè mà vẫn còn đội cái bè trên đầu để tiếp tục cuộc hành trình! Cho nên, khi chốn già lam đã xuống cấp mà không đủ duyên để dựng chùa lớn thì nên hoan hỉ xây chùa nhỏ, để tránh tình trạng việc thi công phải kéo dài nhiều năm vì thiếu tịnh tài, còn vị trú trì thì phải “nằm chung” với gạch gỗ, xi măng, sắt thép và đủ loại phiền não.
...
Hà Thúc Hoan 

22.01.10
...
....

Friday, August 1, 2014

Tháng 7 mưa Ngâu

.
.
..
SỰ TÍCH NGƯU LANG CHỨC NỮ
..
NGƯU LANG CHỨC NỮ là truyện cổ tích dân gian có nguồn gốc từ Việt Nam lẫn Trung Hoa nhưng 2 câu chuyện kể lại khác nhau.

1) TÓM TẮT TRUYỆN VIỆT NAM:
...
Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng Thượng đế, vì say mê một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên là Chức Nữ nên bỏ bê công việc chăn trâu, để trâu đi nghênh ngang vào cung điện của Ngọc Hoàng có tên gọi là điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nải việc dệt vải. Ngọc Hoàng giận giữ, bắt cả hai phải ở cách xa nhau, người đầu sông Ngân, kẻ cuối sông.
Sau đó, Ngọc Hoàng thương tình nên ra ơn cho hai người mỗi năm được gặp nhau một lần vào ngày mùng 7 tháng Bảy âm lịch. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt. Nước mắt của họ rơi xuống trần hóa thành cơn mưa và được người dưới trần gian đặt tên là mưa ngâu...
Thời bấy giờ sông Ngân trên thiên đình không có một cây cầu nào cả nên Ngọc Hoàng mới ra lệnh cho làm cầu để Ngưu Lang và Chức Nữ tháng bảy được gặp nhau. Các người thợ mộc ở trần thế được mời lên trời để xây cầu. Vì mạnh ai nấy làm, không ai nghe ai, họ cãi nhau chí chóe nên đến kỳ hạn mà cây cầu vẫn xây chưa xong. Ngọc Hoàng bực tức, bắt tội các ông thợ mộc hóa kiếp làm quạ lấy cánh sắp lại làm cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau. Vì thế cứ tới tháng bảy là loài quạ phải họp nhau lại để chuẩn bị lên trời bắc Ô kiều hay Ô Thước cho Ngưu Lang và Chức Nữ hội ngộ.
Gặp nhau ri lại phải chia tay, họ ôm nhau khóc sướt mướt... thế là dưới trần thế có mưa ngâu:
...
.
...
2) TÓM TẮT TRUYỆN TRUNG HOA:
....
Chàng chăn bò trẻ tuổi có tên gọi Ngưu Lang (tức sao Altair hay chàng chăn bò, là sao Ngưu Lang) nhìn thấy bảy cô tiên xinh đẹp (tức sao Bảy Chị Em) đang tắm trong hồ và đang đùa giỡn vui vẻ với nhau. Được cổ vũ bởi người bạn đồng hành tinh quái là một con bò đực, chàng đã lấy trộm váy áo của họ và chờ đợi xem điều gì sẽ xảy ra. Các nàng tiên đã cử cô em út và xinh đẹp nhất có tên gọi là Chức Nữ (tức sao Vega hay nàng tiên dệt vải) ra để lấy lại váy áo. Nàng đành phải làm theo, nhưng do Ngưu Lang đã nhìn thấy thân thể trần tục của Chức Nữ nên nàng đành chấp thuận lời cầu hôn của chàng (đúng như câu "Nam nữ thụ thụ bất thân" của lễ giáo ngày xưa). Nàng đã chứng tỏ mình là một người vợ tuyệt vời, còn Ngưu Lang là một người chồng tốt và họ đã sống bên nhau hạnh phúc. Nhưng một hôm bà Thiên Hậu (có thể là mẹ của Chức Nữ) nhận ra rằng một kẻ tầm thường như Ngưu Lang lại dám cưới một nàng tiên đẹp nên bà đã điên tiết lên, rút cái kẹp tóc của nàng ra, bà Thiên Hậu đã vạch ra một con sông rộng trên bầu trời để chia cắt đôi tình nhân mãi mãi (vì thế tạo ra sông Ngân và trên thực tế người ta nhìn thấy các sao Ngưu Lang và Chức Nữ nằm ở hai bên của dải Ngân Hà)....
Chức Nữ phải vĩnh viễn ngồi trên một bờ sông, buồn bã dệt vải, còn Ngưu Lang chỉ nhìn thấy vợ mình từ xa và phải chịu trách nhiệm nuôi hai con (tức hai ngôi sao bên cạnh nó.)
....
Nhưng có một ngày, tất cả các con quạ cảm thấy thương hại họ và chúng bay lên trời để làm cầu (Ô kiều hay Ô Thước) phía trên sao Deneb trong chòm sao Cygnus để đôi vợ chồng có thể gặp nhau trong một đêm, là đêm thứ bảy của tháng Bảy âm lịch.
..
......
Có một bài thơ Trung Hoa phiên âm như sau:
.....
Điều điều Khiên Ngưu tinh, kiểu kiểu Hà Hán nữ.
Tiêm tiêm trạc tổ thủ, trát trát lộng ky trữ.
Chung nhật bất thành chương, khấp thế linh như vũ.
Hà Hán thanh thả thiển, tương khứ phục ki hứa ?
Doanh doanh nhất thủy gian, mạch mạch bất đắc ngữ. *
...
Dịch:
...
Xa xa kìa sao Ngưu, sáng sáng Ngân Hà nữ.
Nhỏ nhỏ tay trắng ngần, rì rào khung cửi gỗ.
Trọn ngày không thành lời, khóc nghẹn lệ như mưa.
Ngân Hà xanh lại nông, ngăn trở xa thế hử ?
Nhởn nhơ một dòng nước, cách biệt không ra lời. *
..
Còn ở Việt Namcó bài hát do Hương Lan và Duy Quang hát như sau:..
..
CHUYỆN TÌNH NGƯU LANG CHỨC NỮ
....
.
(st)

Thursday, July 31, 2014

Cánh nhạc chiều

............
CÁNH NHẠC CHIỀU
...
Anh gởi về em cánh nhạc chiều
Khi trời lành lạnh gió đìu hiu
Khi mùa mây tím về giăng mắc
Khi tiếng mưa buồn lặng lẽ gieo


Anh dệt thành thơ những cánh mai
Thơm thơm mùi tóc nắng thu gài
Cho em thôi khóc thôi hờn dỗi
Vào những đêm dài mưa bụi bay


Anh nguyện làm mây đi bốn phương
Tìm em trong giấc ngủ thiên đường
Tìm em trong những chiều thu muộn
Để nhạc giao tình phảng phất hương


Những tiếng tơ này kết nối duyên    
Cho thơ vào nhạc thắm cung huyền
Rồi đây anh sẽ làm chim Vũ
Chuyển kiếp chờ em dưới ngọc tuyền

Những tiếng tơ này như cánh lan
Mong manh tuyết trắng phủ cung đài
Một mai vàng úa. Ôi! dòng chữ
Quằn quại trong lòng nét nhạc say


Những tiếng tơ này theo cánh chim
Trên khung trời rộng mải mê tìm
Làn môi khép kín lòng trinh bạch
Rồi chết vào đêm bóng nguyệt chìm

....
(Không rõ tác giả)
...
(st)

Phương Mai: lục bát chi hoài


..
..
LỤC BÁT CHI HOÀI 

Đôi khi thấy nửa chiều tà
Trời đem sương khói phơi ra vạt sầu
Lòng ta ta cũng nhuộm màu
Khi về đem thả qua cầu gió bay
Đôi khi nắng tắt ngọn cây
Nhớ nhung ta cũng tính sai tuổi người
Tuổi người ta tính trên môi
Tuổi ta người tính bằng trời lãng du
Đôi khi đến giữa mùa thu
Ngồi trong lớp học thấy mù thời gian
Chim trời khép cánh lang thang
Mưa mềm gõ nhịp trời mang mang buồn
Đôi khi mưa nhỏ vào hồn
Đôi khi nắng quái tường vi mấy mùa
Lớp trường thương mấy cho vừa
Giật mình bỗng nghĩ cũng chưa vội vàng. 

Đoàn Phương-Mai (ĐK 12C1- 1973)...

Sunday, July 27, 2014

Đố vui kỳ 15: đầu rồng đuôi phụng

..

......
..CÂU ĐỐ KỲ 15:
..
1.  Đầu rồng đuôi phụng lê thê,
     Mùa đông ấp trứng, mùa hè nở con.
     Đố là gì?
..
2.  Xưa kia em ở bụi tre,
     Mùa đông xếp lại, mùa hè mở ra.
     Đố là gì?

..
Mỹ-Vân (ĐK67) ghi lại từ ký ức....

GIẢI ĐÁP ĐỐ VUI KỲ 14 : .
..
Câu 1: Chén bát sau khi rửa xong. 
Câu 2: Trái ớt..

Thu Lê: không đoạn kết

..
.
Tình Yêu Không Đoạn Kết
.....     
Gió rung nhẹ lá thầm thì kêu gọi
Lời yêu đương vang vọng từ ngàn phương
Bóng dáng ai ẩn hiện khắp nẻo đường
Làm sao biết tình ta cùng chung lối
..
Trong bóng tối điệu buồn còn vươn vấn
Nghe mơ hồ tiếng gọi của tình yêu
Xích gần nhau cho mộng tưởng muôn chiều
Đưa tay với ngàn sao xa vời vợi
..
Tình thắm đượm lớn dần theo năm tháng
Đôi mắt em làm sáng rực hồn tôi
Nụ cười tươi luôn rạng rỡ trên môi
Em đâu biết lòng tôi đang bão nỗi
...
Bên trời này em vẫn hằng mơ tưởng
Anh nghĩ gì những giây phút thương yêu
Lời hẹn hò trong cung điệu muôn chiều
Tình mình vượt thời gian không giới hạn
..
Góp mây chiều cho tình ta chung lối
Gởi trao nhau tình muôn kiếp ái ân
Cho nụ cười vẫn rạng rỡ vô ngần
Trong mắt biếc soi tình mình muôn thuở
.

Xa vắng quá vòng tay không đủ rộng
Ôm hình hài ôm cả mối tình chung
Thương nhớ đầy vơi thương nhớ vô cùng
Mơ ước một tình yêu không đoạn kết
..

Đoàn Thu-Lê, ĐK 67

Saturday, July 26, 2014

Hãy thong thả sống

..
(Nguồn hình: Internet)
.
..
"Thượng Đế khi đem mình vào đời, có hỏi ý kiến mình đâu.
Nên chắc chắn là khi Ngài gọi mình đi cũng chẳng cần thông báo trước." ..
.
Y THONG THẢ SỐNG
..
TÁC GIẢ: TRẦN MỘNG TÚ

Nhiều khi chúng ta sống mà quên bẵng đi là mình có thể chết bất cứ lúc nào. Ta hối hả sống, vui, buồn, khỏe, yếu, ta cứ lướt qua rồi không ngoái đầu lại nhìn chuỗi ngày tháng ta đã tiêu hao của một đời người.

Cho đến khi có một người bạn vừa ngã bệnh, bệnh nặng, không biết sẽ mất đi lúc nào, lúc đó ta mới xa, gần, hốt hoảng gọi nhau. Tưởng như chưa từng có người bạn nào “Chết” bao giờ. Hay ta có một người thân trong gia đình, đang rất khỏe vừa báo tin bị bệnh hiểm nghèo. Gia đình, họ hàng cuống lên, sợ hãi như chưa nghe đến ai nói về cái chết bao giờ, chưa chứng kiến cảnh vào bệnh viện, cảnh tang ma bao giờ.
..
Cả hai người trên có thể đã ngoài 70 tuổi. Lạ thật! Cái tuổi nếu có chết thì cũng đã sống khá lâu trên đời rồi, sao những người chung quanh còn hoảng hốt thế. Hóa ra người ta, không ai muốn nghe đến chữ “Chết” dù chữ đó đến với mình hay với người thân của mình.

Hình như không ai để ý đến mỗi sáng chúng ta thức dậy, nhìn thấy mặt trời mọc (nếu còn để ý đến mặt trời mọc) là chúng ta đã tiêu dùng cái ngày hôm qua của đời sống mình. Có người vì công việc làm ăn, cả tuần mới có thời giờ ngửng mặt nhìn lên mặt trời. Buổi sáng còn tối đất đã hấp tấp ra đi, buổi chiều vội vã trở về lúc thành phố đã lên đèn, làm gì nhìn thấy mặt trời. Nhưng mặt trời vẫn nhìn thấy họ, vẫn đếm mỗi ngày trong đời họ. Họ tiêu mất cái vốn thời gian của mình lúc nào không biết. Tiêu dần dần vào cái vốn Trời cho mà đâu có hay. Rồi một hôm nào đó bỗng nhìn kỹ trong gương, thấy mình trắng tóc. Hốt hoảng, tiếc thời gian quá! Khi nghe tin những người bạn bằng tuổi mình, bệnh tật đến, từ từ theo nhau rơi xuống nhanh như mặt trời rơi xuống nước, họ vừa thương tiếc bạn vừa nghĩ đến phiên mình.

Thật ra, nếu chúng ta bình tâm nghĩ lại một chút, sẽ thấy “Cái chết” nó cũng đến tự nhiên như “Cái sống” . Đơn giản, mình phải hiểu giữa sống và chết là một sự liên hệ mật thiết, vì lúc nào cái chết cũng đi song song từng ngày với cái sống.

Dẫu biết rằng, đôi khi có những cái chết đến quá sớm, nhưng ta cũng đâu có quyền từ khước chết.

Tôi biết có người mẹ trẻ, con của bạn thân tôi. Chị bị ung thư, chị cầu xin Thượng Đế cho sống đến khi đứa con duy nhất của mình vào Đại Học. Chị không cưỡng lại cái chết, chị chỉ mặc cả với Thượng Đế về thời gian vì con chị lúc đó mới lên 3 tuổi. Thượng Đế đã nhận lời chị. Ngày con chị tốt nghiệp Trung Học, chị ngồi xe lăn đi dự lễ ra trường của con và tuần lễ sau chị qua đời. Trong suốt mười mấy năm trị bệnh, chị vẫn làm đủ mọi việc: chị đội tóc giả đi làm, đến sở đều đặn, lấy ngày nghỉ hè và ngày nghỉ bệnh đi trị liệu.

Những bạn làm chung không ai biết chị bị ung thư, ngay cả xếp của chị. Khi họ biết ra, thì là lúc chị không đứng được trên đôi chân mình nữa. Chị sửa soạn từng ngày cho cái chết với nụ cười trên môi. Vẫn vừa đi làm, vừa cơm nước cho chồng con, ân cần săn sóc cha mẹ, hiền hòa giúp đỡ anh em trong nhà, chị mang niềm tin đến cho tất cả những người thân yêu của mình. Sau ba năm chị mất, cậu con trai mỗi năm vẫn nhận được một tấm thiệp sinh nhật mẹ viết cho mình (Mẹ đã nhờ qua người dì gửi hộ). Hôm sinh nhật 21 tuổi của cậu cũng vào ngày giỗ năm thứ ba của Mẹ, cậu nhận được tấm thiệp mừng sinh nhật mình, với dòng chữ nguệch ngoạc, chị viết cho con: Mừng sinh nhật thứ 21 của con. Hãy bước vui trong đời sống và nhớ rằng mẹ luôn luôn bên cạnh con. Tôi đọc những dòng chữ mà ứa nước mắt.

Tôi nghĩ đến chị với tất cả lòng cảm phục. Chị là người biết sống trong nỗi chết. Khi không thắng được bệnh tật, chị biết hòa giải với nó để sống chậm lại với nó từng ngày cho con mình. Chắc “Cái chết” cũng nhân nhượng với chị, thông cảm với chị như một người bạn.

Một chị bạn kể cho nghe về một bà bạn khác. Bà này mới ngoài sáu mươi, nhanh nhẹn, khỏe mạnh và tính nết vui vẻ, yêu đời. Nhưng khi nào đi ra khỏi nhà bà cũng mang theo một bộ quần áo đặc biệt, đủ cả giầy vớ bỏ vào một cái túi nhỏ riêng trong va-li. Hỏi bà, sao lại để bộ này ra riêng một gói vậy, bà thản nhiên nói:“Nếu tôi chết bất thình lình ở đâu, tôi có sẵn quần áo liệm, không phiền đến ai phải lo cho mình.” Bà mang theo như thế lâu lắm rồi, tôi không biết có khi nào bà ngắm nghía mãi, thấy chưa dùng tới, bà lại đổi một bộ mới khác cho ưng ý không? Giống như người phụ nữ sắp đi dự tiệc hay cầm lên, để xuống, thay đổi áo quần sao cho đẹp. Đi vào cái chết cũng có thể coi như đi dự một đám tiệc.

Tôi nghĩ đây là một người khôn ngoan, sẵn sàng cho cái chết mà bà biết nó sẽ đến bất cứ lúc nào. Bà đón nhận cái chết tự nhiên, giản dị như đi dự tiệc, hay một chuyến đi xa, đi gần, nào đó của mình.

Nhưng không phải ai cũng nghĩ về cái chết giản dị như vậy. Phần đông muốn được sống lâu, nên bao giờ gặp nhau cũng thích chúc cho nhau tuổi thọ. Thích hỏi nhau ăn gì, uống gì cho trẻ trung mãi. Loài người nói chung, càng ngày càng thích sống hơn chết. Họ tìm kiếm đủ mọi phương thuốc để kéo dài tuổi thọ. Người ta ức đoán, trong một tương lai rất gần, loài người có thể sống đến 120 tuổi dễ dàng với những môn thuốc ngăn ngừa bệnh tật và bồi dưỡng sức khỏe.

Rồi người ta sẽ còn tạo ra những bộ phận mới của nội tạng để thay thế cho những bộ phận gốc bị nhiễm bệnh. Gan, ruột, bao tử v.v, sẽ được thay như ta thay những phần máy móc của một cái xe cũ. Chúng ta, rồi sẽ sống chen chúc nhau trên mặt đất này.

Chỉ tiếc một điều là song song với việc khám phá ra thuốc trường thọ người ta cũng phải phát minh ra những người máy (robot) để chăm sóc những người già này, vì con cháu quá bận (chắc đang chúi đầu tìm thuốc trường sinh) không ai có thời giờ chăm sóc cha mẹ già. Theo tôi, ngắm nhìn hình ảnh một cụ ông hay một cụ bà lưng còng, tóc bạc, đang cô đơn ngồi trong một căn buồng trống vắng, được một người máy đút cơm vào miệng, thật khó mà cảm động, đôi khi còn cho ta cái cảm giác tủi thân nữa.

Nhưng sống như vậy mà có người vẫn thích sống. Một người đàn ông ngoài bẩy mươi, bị bệnh tim nặng, đang nằm trong phòng đặc biệt (ICU) lúc mơ màng tỉnh dậy, nhắn với các con cháu là khi nào vào thăm không ai được mặc áo mầu đen. Ông kiêng cữ mầu của thần chết. Ông quên rằng thần chết, đôi khi, có thể đến với chiếc áo mầu hồng.

Thật ra, chính nhờ “cái chết” cho ta nhận biết là “cái sống” đẹp hơn và có giá trị hơn, dù có người sống rất cơ cực vẫn thấy cuộc đời là đẹp.

Những bậc thiên tài, những nhà văn lớn đã tự tìm về cái chết khi họ bắt đầu nhìn thấy cái vô vị trong đời sống như nhà văn Ernest Hemingway, Yasunari Kawabata và họa sĩ Vincent van Gogh, v.v… Chắc họ không muốn sống vì thấy mình không còn khả năng hưởng hết vẻ đẹp của “cái sống” nữa. Họ là một vài người trong số nhỏ trên mặt đất này sau khi chết để lại tên tuổi trên những trang sử, lưu lại hậu thế, còn phần đông nhân loại, sau khi chết một thời gian, không để lại một di tích nào. Con cháu có thờ cúng được một hai thế hệ, sau đó tên tuổi mờ dần, mất hẳn theo ngày tháng, vì chính những kẻ thờ phụng đó lại tiếp theo nằm xuống cùng cát bụi.

Ðời sống con người chóng qua như cỏ, như bông hoa nở trong cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích.(Thánh Vịnh)

Thượng Đế khi đem mình vào đời, có hỏi ý kiến mình đâu. Nên chắc chắn là khi Ngài gọi mình đi cũng chẳng cần thông báo trước.

Chúng ta cứ thong thả sống từng ngày, khi nào chết thì chết, mặt trời mọc rồi mặt trời lặn, bông hoa nở rồi bông hoa tàn, thế thôi.

Tại sao ta phải cay cú với cái chết? Hãy dùng trí tưởng tượng của mình, thử hình dung ra một thế giới không có cái chết(*)

Chắc lúc đó chúng ta sẽ không còn không khí mà thở chứ đừng nghĩ đến có một phiến đất cho bàn chân đứng.

Tác giả: Trần Mộng Tú
.
(sưu tầm)

Tuesday, July 22, 2014

Như bóng mây

TÌNH YÊU NHƯ BÓNG MÂY
Nhạc: Song Ngọc
Tiếng hát: Khánh Hà
....
.....

Sunday, July 20, 2014

Đố vui kỳ 14: một đàn cò trắng


..
..
ĐỐ VUI KỲ 14:
....
1.  Một đàn cò trắng phau phau,
     Ăn no tắm mát rủ nhau đi nằm.
     Đố là cái gì?

2.  Tôi nhỏ tôi mặc áo xanh,
     Tôi lớn bằng anh tôi mặc áo đỏ.
      Đố là gì?

...
Mỹ-Vân (ĐK67) ghi lại từ ký ức
..
...
GIẢI ĐÁP ĐỐ VUI KỲ 13 
HỒ THỊ MINH HỒNG, B5

Wednesday, July 2, 2014

Khi Còn Học Thành-Nội

thơ Đoàn Phương-Mai (ĐK 73)

(Hình: Internet)
...
KHI CÒN HỌC THÀNH NỘI
.
Hồn chưa vỡ nên nhìn tờ giấy mới
Bao ngày vui xếp lại đóng thành trang
Nếp đoan trang nét chữ viết ngay hàng
Rất tươm tất đường ngôi bờ tóc thẳng
..
Xanh như lá hồn nhiên theo ngày tháng
Trong như mưa không ướt được tâm hồn
Mỗi sớm mai thức dậy chẳng nhìn gương
Nắng xuyên suốt vào vườn màu ngọc bích
..
Cặp nặng chĩu đâu chỉ vì trang sách
Bài thuộc rồi còn nhẩm lại trên đường
Nhìn cô thầy như những bậc đế vương
Con điểm đỏ như một lời phán quyết
..
Áo đầm trắng là màu trong của tuyết
Từng mây xanh xanh hút những giấc mơ
Chiều tan trường không ai đứng đợi chờ
Thơ thẩn hái chùm hoa chia bè bạn
..
Đêm không ngủ được đâu vì trăng sáng
Bầy ve kêu trên cây nhãn trước nhà
Bài toán dài không giải được thật là
Lo chi lạ sợ thầy la muốn khóc
..
Con búp bê nằm hoài trong một góc
Vì mùa thu về ở giữa sân trường
Khi chào cờ chợt một sợi khói vương
Cô hiệu trưởng bảo nhà trường sắp nghỉ
..
Trao lưu bút nhớ ghi nhiều đấy nhé
Mùa hè không vui nhưng thật vô tình
Bỗng thấy lớn lên bỗng thấy một mình
Bông phượng đỏ chiều giông nồng hơi đất
..
Thành Nội ơi, những ngày trong trắng nhất !
..
Đoàn Phương-Mai (France)..
...
(Hình: Internet)